
Bản Sanh: truyện 531 tới 540 / Jataka Tales: Stories 531–540
Nguyên bản: Pali
Anh dịch: H.T. Francis và Ānandajoti Bhikkhu
Việt dịch và rút ngắn: Nguyên Giác
J531. Kusa Jātaka -- Tìm một người vợ có vẻ đẹp vượt trội hơn cả tượng vàng.
Tóm tắt: Một ngày nọ, một vị sư, khi nhìn thấy một phụ nữ, đã bị dục vọng chế ngự và muốn từ bỏ cuộc sống tu hành. Đức Phật sau đó kể một câu chuyện về một vị vua xấu trai đã đúc một bức tượng vàng của người phụ nữ mà ông muốn cưới. Khi tìm thấy phụ nữ đó, cô lại không thể chịu đựng được khi ở bên ông và trở về nhà. Vị vua đã theo cô và làm nhiều việc thấp hèn để thu hút sự chú ý của cô, cuối cùng đã chinh phục được cô bằng cách đánh bại bảy vị vua trong trận chiến.
.
Khi đang trú ngụ tại Jetavana, Đức Phật kể một câu chuyện về một vị tỳ kheo đã sa ngã khỏi con đường tu tập. Vị tỳ kheo này xuất thân từ dòng dõi quý tộc và sống ở Savatthi. Sau khi thành tâm quy y Phật pháp, ông đã xuất gia tu hành. Một ngày nọ, khi đi khất thực trong thành phố, ông gặp một người phụ nữ vô cùng xinh đẹp và ngay lập tức bị mê hoặc. Lòng dục vọng lấn át ông, và từ khoảnh khắc đó, đời sống tâm linh của ông suy đồi. Ông bỏ bê vẻ ngoài, để tóc và móng tay mọc dài, mặc y phục bẩn thỉu, và mất đi sự điềm tĩnh trước đây. Cơ thể ông gầy gò, xanh xao, và các mạch máu nổi rõ.
Cũng giống như những chúng sinh sắp sa ngã khỏi cõi trời thường biểu hiện năm dấu hiệu suy tàn, các vị tỳ kheo sa ngã khỏi con đường tu tập cũng biểu hiện những dấu hiệu tương tự. Hoa sen đức tin héo tàn, y phục đạo đức bị vấy bẩn, thân thể trở nên xấu xí do bất mãn và tiếng xấu, sự suy đồi đạo đức biểu hiện như mồ hôi trên cơ thể, và niềm vui trong sự tĩnh lặng bị mất đi. Tất cả những dấu hiệu này đều hiện rõ ở vị tỳ kheo đó. Thấy vậy, các vị tỳ kheo khác đưa ông đến gặp Đức Phật. Khi vị tỳ kheo thừa nhận sự bất mãn của mình, Đức Phật cảnh báo ông về sự nô lệ cho dục vọng và giải thích rằng ngay cả những bậc hiền triết vĩ đại trong quá khứ cũng đã bị hủy hoại bởi sự ràng buộc với phụ nữ. Để minh họa điều này, Ngài kể một câu chuyện từ kiếp trước.
Ngày xưa, tại vương quốc Malla, vua Okkaka trị vì một cách công bằng từ thành phố Kusavati. Mặc dù có nhiều vợ, nhưng hoàng hậu chính, Silavati, lại không có con. Lo sợ dòng dõi hoàng gia sẽ bị tuyệt diệt, người dân thúc giục nhà vua tìm kiếm một người con trai. Sau nhiều nỗ lực không thành công với những người phụ nữ thuộc các tầng lớp khác nhau, người ta quyết định rằng chính hoàng hậu Silavati nên được đưa ra ngoài thành phố theo nghi lễ truyền thống. Nhờ sức mạnh đức hạnh của bà, những dấu hiệu xuất hiện trên cõi trời Ba mươi ba, thu hút sự chú ý của Sakka, vua của các vị thần. Phát hiện ra ước muốn có con trai của bà, Sakka quyết định ban cho bà điều ước đó và chọn Bồ Tát để đầu thai vào bụng bà.
Bằng phép thần thông, Silavati được đưa đến cõi trời và sau đó trở về cung điện, nơi Bồ Tát được thụ thai. Đến thời điểm thích hợp, bà sinh ra một người con trai tên là Kusa. Sau đó, một người con trai thứ hai tên là Jayampati được sinh ra. Hoàng tử Kusa lớn lên với trí tuệ phi thường, thông thạo tất cả các nghệ thuật mà không cần học hỏi. Mặc dù được định sẵn sẽ trở thành vua, nhưng ngoại hình của ông lại không được ưa nhìn.
Khi đến lúc sắp xếp hôn nhân, Kusa dự đoán rằng vẻ ngoài của mình sẽ khiến người khác từ chối và quyết định từ bỏ cuộc sống trần tục sau khi chăm sóc cha mẹ. Bị thúc ép nhiều lần, ông đã nghĩ ra một cách để trì hoãn bằng cách cho đúc một bức tượng vàng có vẻ đẹp tuyệt trần, tuyên bố rằng ông chỉ kết hôn với người phụ nữ có vẻ đẹp tương xứng với bức tượng đó. Các sứ giả đã đi khắp Ấn Độ với bức tượng này và cuối cùng đến thành phố Sagala thuộc vương quốc Madda, nơi họ gặp công chúa Pabhavati, người có vẻ đẹp vượt trội hơn cả bức tượng. Một cuộc hôn nhân đã được sắp đặt.
Lo sợ rằng Pabhavati sẽ từ chối Kusa khi nhìn thấy ông, Hoàng hậu Silavati đã thiết lập một phong tục gia đình, theo đó cô dâu không được nhìn thấy chồng mình vào ban ngày cho đến khi cô ấy mang thai. Vì vậy, cuộc hôn nhân diễn ra, và Kusa trị vì với tư cách là vua, mặc dù luôn giấu mặt khỏi vợ mình. Thông qua nhiều mưu mẹo khác nhau, Pabhavati được dẫn dắt tin rằng Jayampati là chồng mình, trong khi Kusa vẫn ẩn mình.
Cuối cùng, những nghi ngờ nảy sinh, và mặc dù Kusa rất muốn tiết lộ thân phận, Pabhavati đã kinh hãi khi cuối cùng nhìn thấy vẻ ngoài thật sự của ông. Tràn đầy sự ghê tởm, nàng bỏ trốn trở về vương quốc của cha mình. Kusa, đau khổ tột cùng, quyết định đi theo nàng. Giao lại vương quốc cho mẹ mình chăm sóc, ông đã đi đến Sagala với tốc độ phi thường.
Ở đó, ông sống ẩn mình trong bảy tháng, lần lượt làm nhạc công, người học việc thợ gốm, người làm giỏ, người dệt vòng hoa và đầu bếp, mỗi lần chỉ tiết lộ thân phận của mình thông qua những dấu hiệu nghệ thuật tinh tế mà chỉ Pabhavati mới nhận ra. Mặc dù nàng nhận ra sự thật, nhưng lòng kiêu hãnh và sự ghê tởm đã ngăn cản sự hòa giải. Ông đã chịu đựng sự sỉ nhục và khó khăn chỉ vì tình yêu dành cho nàng.
Cuối cùng, sự can thiệp của thần linh đã đẩy mọi việc đến đỉnh điểm. Bảy vị vua đối địch đến, mỗi người đều đòi cưới Pabhavati, và thành phố bị bao vây. Cha của nàng, tức giận trước hành vi của con gái, quyết định xử tử nàng và chia nàng cho họ. Kinh hãi trước viễn cảnh cái chết, Pabhavati cuối cùng đã tiết lộ rằng Vua Kusa đã sống ẩn mình trong cung điện suốt thời gian qua.
Cuối cùng, sự thật được phơi bày, và sự kiên trì bền bỉ và đức hạnh của Kusa được tiết lộ. Qua câu chuyện này, Đức Phật đã chỉ ra rằng dục vọng dẫn dắt ngay cả người trí tuệ cũng rơi vào khổ đau, và sự chấp trước, nếu không được kiểm soát, sẽ mang đến sự nhục nhã và đau khổ qua nhiều kiếp sống.
Vì vậy, Đức Phật kết thúc bài giảng của mình, tiết lộ nguồn gốc sâu xa của dục vọng và mối nguy hiểm của việc bị nô lệ bởi nó, từ đó hướng dẫn vị tỳ kheo từ bỏ sự chấp trước và trở lại con đường giải thoát.
.... o ....
J531. Kusa Jātaka -- Finding a wife whose beauty surpasses that of a golden statue.
Summary: One day, a monk, upon seeing a woman, was overcome with lust and wished to abandon the monastic life. The Buddha then told a story about an unattractive king who crafted a golden statue of the woman he desired to marry. When the woman was found, she could not bear to be with him and returned to her home. The king followed her and performed many menial tasks to attract her attention, eventually winning her over by defeating seven kings in battle.
.
While dwelling at Jetavana, the Buddha told a tale concerning a monk who had fallen back from the faith. The monk was of noble birth and lived at Savatthi. After embracing the Teaching with sincere devotion, he entered the ascetic life. One day, while walking through the city on his alms round, he encountered a woman of great beauty and at once became infatuated. His passion overwhelmed him, and from that moment his spiritual life declined. He neglected his appearance, allowed his hair and nails to grow long, wore soiled robes, and lost his former composure. His body grew thin and sallow, and his veins stood out prominently.
Just as beings destined to fall from the heavenly realms exhibit five signs of decay, so too do monks who fall away from the faith display similar marks. The flowers of faith wither, the robe of righteousness becomes stained, the body grows unsightly through discontent and ill repute, moral corruption manifests like sweat upon the body, and delight in solitude is lost. All these signs were evident in the monk. Seeing this, the other monks brought him before the Buddha. When the monk admitted his discontent, the Buddha warned him against enslavement to passion and explained that even great sages of the past had been ruined through attachment to women. To illustrate this, he related a story from a former life.
Long ago, in the Malla kingdom, King Okkaka ruled righteously from the city of Kusavati. Though he possessed many wives, his chief queen, Silavati, had no children. Fearing the extinction of the royal line, the people urged the king to seek a son. After various unsuccessful attempts involving women of differing rank, it was decided that Queen Silavati herself should be ceremonially exposed in the city according to custom. Through the power of her virtue, signs appeared in the heaven of the Thirty-three, drawing the attention of Sakka, king of the gods. Discovering her wish for a son, Sakka resolved to grant it and chose the Bodhisatta to be conceived in her womb.
By divine means, Silavati was carried to the heavenly realm and later returned to the palace, where the Bodhisatta was conceived. In due time, she bore a son who was named Kusa. Later, a second son named Jayampati was born. Prince Kusa grew up endowed with extraordinary wisdom, mastering all arts without instruction. Though destined for kingship, he was physically unattractive.
When the time came to arrange his marriage, Kusa foresaw that his appearance would cause rejection and resolved instead to renounce worldly life after caring for his parents. Pressed repeatedly, he devised a means to delay matters by commissioning a golden image of unsurpassed beauty, declaring that he would marry only a woman equal to it. Envoys traveled across India with this image and eventually reached the city of Sagala in the kingdom of Madda, where they encountered Princess Pabhavati, whose beauty surpassed even the image. A marriage alliance was arranged.
Fearing that Pabhavati would reject Kusa upon seeing him, Queen Silavati instituted a family custom whereby the bride could not see her husband by daylight until she had conceived. Thus, the marriage proceeded, and Kusa ruled as king, though always hidden from his wife’s sight. Through various stratagems involving disguises and substitutions, Pabhavati was led to believe that Jayampati was her husband, while Kusa remained unseen.
Eventually, suspicions arose, and despite Kusa’s longing to reveal himself, Pabhavati recoiled in horror when she finally saw his true appearance. Filled with aversion, she fled back to her father’s kingdom. Kusa, overcome with grief, resolved to follow her. Leaving his kingdom in his mother’s care, he traveled with extraordinary speed to Sagala.
There, he lived in disguise for seven months, serving successively as musician, potter’s apprentice, basket maker, garland weaver, and cook, each time revealing his identity only through subtle artistic signs recognized by Pabhavati alone. Though she discerned the truth, her pride and aversion prevented reconciliation. He endured humiliation and hardship solely out of love for her.
Eventually, divine intervention stirred events to a crisis. Seven rival kings arrived, each demanding Pabhavati’s hand, and the city was besieged. Her father, enraged at her conduct, resolved to have her executed and divided among them. Terrified by the prospect of death, Pabhavati finally revealed that King Kusa had been living in disguise within the palace all along.
At last, the truth was made known, and Kusa’s steadfast endurance and virtue were revealed. Through this story, the Buddha showed how passion leads even the wise into suffering, and how attachment, when unchecked, brings humiliation and sorrow across lifetimes.
Thus, the Buddha concluded his teaching, revealing the deep roots of desire and the peril of enslavement to it, thereby instructing the monk to abandon attachment and return to the path of liberation.
.... o ....
J532. Sona-Nanda Jātaka -- Hiếu thảo là con đường cao quý dẫn đến thiên đàng.
Tóm tắt: Một vị sư nọ phụng dưỡng cha mẹ, những người đã lâm vào cảnh nghèo khó và không còn ai khác ở nhà để chăm sóc họ. Khi Đức Phật biết chuyện này, Ngài kể một câu chuyện về hai anh em cùng xuất gia tu hành với cha mẹ. Khi người em mang trái cây chua đến cho cha mẹ, người anh đã đuổi anh ta đi. Để lấy lại lòng tin, người em đã thực hiện nhiều việc thiện và cùng với tất cả các vị vua của Jambudīpa, đến cầu xin người anh tha thứ.
.
Khi đang sống tại Jetavana, Đức Phật kể một câu chuyện về một vị tỳ kheo hiếu thảo với mẹ. Đức Phật giải thích rằng vị tỳ kheo đó không nên bị chỉ trích, vì trong thời xa xưa, các bậc hiền triết thậm chí đã từ chối cả quyền cai trị toàn cõi Ấn Độ để chăm sóc cha mẹ. Để minh họa điều này, Ngài đã kể một câu chuyện trong quá khứ.
Ngày xưa, thành phố hiện nay gọi là Benares được biết đến với tên Brahmavaddhana. Lúc đó, vua Manoja trị vì ở đó. Trong thành phố đó có một vị Bà la môn giàu có, sở hữu tám mươi tỷ tài sản nhưng không có con nối dõi. Theo yêu cầu của ông, vợ ông, một người phụ nữ Bà la môn, đã cầu nguyện tha thiết để có con. Nhờ sức mạnh của đức hạnh của bà, Bồ Tát đã giáng trần từ cõi trời Brahma và được thụ thai trong bụng bà. Khi đứa trẻ ra đời, được đặt tên là Sona. Vài năm sau, một chúng sinh khác từ cõi trời Brahma giáng trần và được thụ thai bởi cùng người mẹ đó, và khi sinh ra, đứa trẻ được đặt tên là Nanda.
Khi hai cậu bé lớn lên và thông thạo kinh Veda và các môn nghệ thuật tự do, cha mẹ thấy vẻ đẹp và tài năng của chúng nên đề nghị sắp xếp hôn nhân cho người con trai cả, Sona. Tuy nhiên, Sona quyết định không kết hôn, tuyên bố ý định sẽ phụng dưỡng cha mẹ suốt đời và chỉ xuất gia sau khi cha mẹ qua đời. Mặc dù đã cố gắng nhiều lần, cả cha lẫn mẹ đều không thể thuyết phục được anh chấp nhận cuộc sống gia đình. Sau đó, họ quay sang người con trai út, Nanda, và thúc giục anh lập gia đình, nhưng anh từ chối, nói rằng anh sẽ không chấp nhận điều mà anh trai mình đã từ chối và anh cũng sẽ trở thành một người tu khổ hạnh sau khi cha mẹ qua đời.
Suy ngẫm về quyết tâm của các con trai, cha mẹ kết luận rằng chính họ nên xuất gia ngay lập tức. Với sự đồng ý của nhà vua, họ phân phát tài sản cho người nghèo, giải phóng nô lệ, lo liệu cho người thân và cùng hai con trai rời khỏi thành phố. Trên dãy Himalaya, gần một hồ sen, họ xây dựng một am thất trong một khu rừng tươi đẹp và sống như những người tu khổ hạnh.
Hai anh em tận tâm chăm sóc cha mẹ. Mỗi ngày họ cung cấp nước, thức ăn, nhu cầu tắm rửa và tất cả các dịch vụ cần thiết. Họ hái trái cây và quả mọng, quét dọn am thất, chăm sóc sự thoải mái cho cha mẹ và thực hiện mọi bổn phận hiếu thảo.
Theo thời gian, sự khác biệt nảy sinh giữa hai anh em trong cách phục vụ. Nanda thu thập bất cứ loại trái cây nào có sẵn và mang đến vào sáng sớm, sau đó cha mẹ anh bắt đầu nhịn ăn. Sona, người cẩn trọng hơn, đã đi quãng đường dài để thu thập những loại trái cây chín mọng và bổ dưỡng, nhưng những lễ vật của anh lại không được cha mẹ dùng đến. Lo lắng rằng sức khỏe yếu ớt của cha mẹ sẽ bị ảnh hưởng, Sona tìm cách sửa chữa thói quen này. Khi Nanda từ chối nghe lời anh, Sona đã đuổi em trai mình ra khỏi am thất, quyết định tự mình chăm sóc cha mẹ.
Ra đi trong đau buồn, Nanda lui vào nơi tĩnh lặng. Nhờ thiền định, anh đã đạt được năm năng lực siêu nhiên và tám thành tựu thiền định. Suy ngẫm về đức hạnh của anh trai, anh quyết định tìm kiếm sự tha thứ và bằng năng lực siêu nhiên của mình, anh đã đến thành phố Brahmavaddhana. Ở đó, anh tiếp cận vua Manoja, cuối cùng đề nghị giúp nhà vua giành được quyền thống trị toàn bộ Ấn Độ mà không cần đổ máu hay tốn kém.
Tin tưởng vào năng lực của vị khổ hạnh, vua Manoja dẫn quân ra trận. Nhờ khả năng siêu nhiên của Nanda, quân đội được bảo vệ khỏi nắng nóng, mưa gió và nguy hiểm. Đường sá được san phẳng, chướng ngại vật được loại bỏ, và không một binh lính nào bị thương. Vương quốc này đến vương quốc khác đầu hàng trong hòa bình, cho đến khi vua Manoja trở thành người cai trị toàn bộ Ấn Độ. Sau bảy năm, bảy tháng và bảy ngày, ông trở về Brahmavaddhana trong chiến thắng.
Sau khi cho nhà vua thời gian tận hưởng quyền lực, Nanda lại xuất hiện trở lại. Vua Manoja, vô cùng biết ơn, đã ban tặng cho ông những phần thưởng hậu hĩnh, nhưng Nanda từ chối mọi vinh hoa phú quý trần tục. Thay vào đó, ông chỉ yêu cầu nhà vua và các vị vua khác cùng đi với ông đến dãy Himalaya để xin lỗi người anh trai Sona.
Trong khi đó, Sona nhận thấy qua thần nhãn rằng em trai mình đang đến cùng nhiều vị vua và quân đội. Biết rằng có thể xảy ra hiểu lầm, ông đã thể hiện sức mạnh siêu nhiên của mình trước các vị vua, từ đó xua tan mọi nghi ngờ về sự giác ngộ của mình.
Khi đoàn rước hoàng gia đến tu viện, vua Manoja, cùng với một trăm lẻ một vị vua, kính cẩn đến cầu xin thay cho Nanda. Sự việc được giải thích cho cha của Sona, và mục đích của chuyến viếng thăm được làm rõ.
Nanda khiêm nhường thừa nhận lỗi lầm của mình và chỉ xin phép được tiếp tục phụng dưỡng cha mẹ, tuyên bố rằng hiếu thảo là con đường cao quý dẫn đến thiên đàng. Sona, nhấn mạnh trách nhiệm cổ xưa của người con trai cả, ban đầu cho rằng việc chăm sóc cha mẹ thuộc về mình. Các vị vua có mặt, ấn tượng trước sự khôn ngoan của Sona, đã thừa nhận sự chính trực của ông.
Nhận thấy sự khiêm nhường và chân thành của em trai, Sona tha thứ cho Nanda và cho phép anh cùng chăm sóc cha mẹ. Mẹ của họ, vô cùng vui mừng trước sự trở về của con trai út, đã ôm lấy anh, và hòa bình được lập lại trong gia đình.
Sona sau đó hướng dẫn Nanda chăm sóc mẹ một cách tận tâm, nhắc nhở anh về những khó khăn mà cha mẹ đã phải chịu đựng khi nuôi dạy con cái và ca ngợi những đức tính của lòng hiếu thảo. Ông nhấn mạnh rằng việc hiếu kính cha mẹ bằng sự phục vụ, tôn trọng và chăm sóc sẽ mang lại hạnh phúc trong cuộc sống này và phần thưởng ở kiếp sau.
Sau khi kết thúc bài giảng, Sona cho phép các vị vua trở về vương quốc của mình, sống theo đạo đức và lòng hào phóng. Sau khi cai trị một cách chính trực, họ được tái sinh ở cõi trời. Sona và Nanda tiếp tục phụng dưỡng cha mẹ một cách trung thành suốt cuộc đời và sau đó được tái sinh ở cõi Brahma.
Đức Phật kết thúc bài thuyết pháp bằng cách xác định các nhân vật trong câu chuyện. Vị sư tận tâm đã đạt được quả vị của Con đường thứ nhất. Cha mẹ của vị hoàng tử từng là thành viên trong triều đình của vua Manoja, Nanda chính là Ānanda, vua Manoja chính là Sāriputta, một trăm lẻ một vị vua kia là các đệ tử cao cấp, các đạo quân hùng mạnh là những người theo Phật, và hiền nhân Sona chính là Đức Phật.
.... o ....
J532. Sona-Nanda Jātaka -- Filial duty is a noble path that leads to heaven.
Summary: One monk supports his parents, who have fallen into poverty and have no one else at home to care for them. When the Buddha learns of this, he tells a story about two brothers who became ascetics along with their parents. When one brother brought sour fruit for their parents, the other sent him away. To regain favor, he performed great deeds and, together with all the kings of Jambudīpa, went to beg his brother for forgiveness.
.
While living at Jetavana, the Buddha told a story concerning a monk who supported his mother. The Buddha explained that the monk should not be censured, for in former times sages had refused even sovereignty over all India in order to care for their parents. To illustrate this, he related a story of the past.
Long ago, the city now called Benares was known as Brahmavaddhana. At that time King Manoja ruled there. In that city lived a wealthy Brahmin magnate who possessed eighty crores of wealth but had no heir. At his request, his Brahmin wife prayed fervently for a son. Through the power of her virtue, the Bodhisatta descended from the Brahma world and was conceived in her womb. When the child was born, he was named Sona. Some years later, another being descended from the Brahma world and was conceived by the same mother, and at his birth he was named Nanda.
When the two boys had grown and mastered the Vedas and the liberal arts, their father observed their beauty and accomplishments and proposed arranging a marriage for the elder son, Sona. Sona, however, resolved to remain unmarried, declaring his intention to support his parents during their lifetime and to renounce the world only after their deaths. Despite repeated attempts, neither parent could persuade him to accept household life. Turning then to the younger son, Nanda, they urged him to establish a household, but he refused, stating that he would not accept what his elder brother had rejected and that he too would become an ascetic after their parents’ passing.
Reflecting on the resolve of their sons, the parents concluded that they themselves should renounce the world without delay. With the king’s consent, they distributed their wealth in charity, freed their slaves, made provision for their relatives, and together with their two sons departed from the city. In the Himalayas, near a lotus-covered lake, they built a hermitage in a pleasant grove and lived as ascetics.
The two brothers devoted themselves to the care of their parents. Each day they provided water, food, bathing needs, and all necessary services. They gathered fruits and berries, swept the hermitage, tended to their parents’ comfort, and performed every filial duty.
Over time, differences arose between the brothers in their manner of service. Nanda gathered whatever fruit was readily available and brought it early in the morning, after which the parents observed their fast. Sona, more discerning, traveled long distances to collect ripe and wholesome fruit, but his offerings went uneaten. Concerned that his parents’ delicate health would suffer, Sona sought to correct this practice. When Nanda refused to heed him, Sona dismissed his younger brother from the hermitage, resolving to care for their parents alone.
Departing in sorrow, Nanda withdrew into solitude. Through meditation, he attained the five supernatural faculties and the eight meditative attainments. Reflecting on his brother’s virtue, he resolved to seek forgiveness and, by his psychic powers, descended into the city of Brahmavaddhana. There he approached King Manoja, ultimately offering to secure sovereignty over all India for him without bloodshed or expense.
Trusting in the ascetic’s powers, King Manoja set out with an army. Through Nanda’s supernatural abilities, the army was protected from heat, rain, wind, and danger. Roads were leveled, obstacles removed, and no soldier suffered harm. Kingdom after kingdom submitted peacefully, until King Manoja became ruler over all India. After seven years, seven months, and seven days, he returned in triumph to Brahmavaddhana.
Having allowed the king time to enjoy his sovereignty, Nanda made himself known once more. King Manoja, grateful beyond measure, offered him vast rewards, but Nanda declined all worldly honors. Instead, he asked only that the king and the gathered rulers accompany him to the Himalayas to seek forgiveness from his elder brother, Sona.
Meanwhile, Sona perceived through divine vision that his brother was approaching with many kings and armies. Knowing that misunderstanding might arise, he demonstrated his own supernatural power to the assembled rulers, thereby dispelling any doubt of his attainment.
When the royal procession reached the hermitage, King Manoja, accompanied by a hundred and one kings, respectfully approached to plead on Nanda’s behalf. The matter was explained to Sona’s father, and the purpose of the visit made known.
Nanda humbly acknowledged his fault and asked only for permission to resume service to his parents, declaring filial duty to be a noble path leading to heaven. Sona, emphasizing the ancient responsibility of the eldest son, initially maintained that the care of parents properly belonged to him. The assembled kings, impressed by Sona’s wisdom, acknowledged his righteousness.
Recognizing his brother’s humility and sincerity, Sona forgave Nanda and allowed him to share in the care of their parents. Their mother, overjoyed at her younger son’s return, embraced him, and peace was restored within the family.
Sona then instructed Nanda to care diligently for their mother, reminding him of the hardships borne by parents in raising children and extolling the virtues of filial devotion. He emphasized that honoring parents through service, respect, and care brings happiness in this life and reward in the next.
Having thus concluded his teaching, Sona dismissed the kings, who returned to their realms established in moral conduct and generosity. After ruling righteously, they were reborn in heavenly realms. Sona and Nanda continued to serve their parents faithfully throughout their lives and were later reborn in the Brahma world.
The Buddha ended the discourse by identifying the characters of the story. The devoted monk was established in the fruition of the First Path. The parents had been members of King Manoja’s court, Nanda had been Ānanda, King Manoja had been Sāriputta, the hundred and one kings were senior disciples, the great armies were the Buddha’s followers, and the sage Sona had been the Buddha himself.
.... o ....
J533. Cullahamsa Jātaka -- Một vị vua Phật từ nên cai trị bằng từ bi và chính trực đạo đức.
Tóm tắt: Trưởng lão Ānanda cố gắng bảo vệ Đức Phật khi Devadatta sai một con voi đến giết ngài. Sau đó, Đức Phật kể một câu chuyện về một người thợ săn bắt được một con ngỗng vàng và vị tướng quân luôn sát cánh cùng với những bài học mà ngỗng vàng đã truyền dạy cho nhà vua.
.
Khi đang cư ngụ tại khu rừng tre, Đức Phật kể một câu chuyện về tôn giả Ānanda và sự sẵn lòng hy sinh mạng sống của mình vì Đức Như Lai. Sự việc xảy ra sau khi Devadatta, thất bại trong việc thuê cung thủ giết Đức Phật, quyết định tự mình giết Ngài. Khi Đức Phật đang đi bộ dưới bóng núi Linh Thứu, Devadatta leo lên núi và ném xuống một tảng đá khổng lồ, với ý định giết Ngài. Hai vách đá gặp nhau và chặn tảng đá lại, nhưng một mảnh đá văng ra và trúng vào chân Đức Phật, gây chảy máu và đau đớn dữ dội. Thầy thuốc Jīvaka đã chữa trị vết thương bằng cách lấy máu độc ra, loại bỏ phần thịt bị tổn thương và bôi thuốc chữa lành, sau đó Đức Phật hồi phục và tiếp tục sinh hoạt bình thường, đi lại giữa các vị tỳ kheo với vẻ uy nghiêm không hề suy giảm.
Thấy rằng ngay cả âm mưu này cũng thất bại, Devadatta nghĩ ra một kế hoạch khác. Biết rằng con voi hoàng gia Nāḷāgiri rất hung dữ và chưa được huấn luyện để kính trọng Đức Phật, hắn thuyết phục vua Ajātasattu cho con voi uống rượu say và thả ra đường phố nơi Đức Phật thường đi khất thực. Nhà vua đồng ý. Nāḷāgiri được cho uống một lượng lớn rượu mạnh và bị kích động bằng roi, rồi được thả ra vào lúc bình minh. Một thông báo công khai cảnh báo người dân nên ở trong nhà.
Khi các tín đồ cư sĩ biết được âm mưu này, họ cầu xin Đức Phật đừng vào thành phố. Đức Phật đồng ý theo cách mà Ngài sẽ đối mặt với nguy hiểm và đồng thời đáp ứng nguyện vọng của họ. Trong đêm, Ngài giảng Pháp, trả lời các câu hỏi, nghỉ ngơi một lát, và sau đó, suy ngẫm về lợi ích của chúng sinh, Ngài dự đoán rằng cuộc gặp gỡ với con voi sẽ dẫn đến việc hàng ngàn người đạt được sự giác ngộ về giáo pháp. Vào lúc bình minh, Ngài gọi Ānanda tập hợp các vị tỳ kheo từ các tu viện xung quanh, và cùng nhau họ tiến vào Rājagaha.
Thành phố tràn ngập người xem. Một số người, trung thành với Đức Phật, dự đoán sự chiến thắng của lòng từ bi trước sức mạnh tàn bạo; những người khác lại dự đoán sự diệt vong của Đức Phật. Nāḷāgiri, say rượu, lao qua các đường phố, đập phá xe cộ và làm cho mọi người khiếp sợ. Khi các vị tỳ kheo thấy con voi lao về phía họ, nhiều người đã tình nguyện đối mặt với nó, nhưng Đức Phật từ chối tất cả những lời đề nghị đó. Ānanda, không thể chịu đựng được ý nghĩ Phật bị hại, đã đứng chắn trước mặt Ngài, sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình. Mặc dù đã nhiều lần bị ngăn cản, ông vẫn kiên quyết cho đến khi Đức Phật, bằng thần thông, nhẹ nhàng đưa ông ra và đặt ông an toàn giữa các vị tỳ kheo.
Vào lúc đó, một người phụ nữ hoảng sợ chạy trốn khỏi con voi đã đánh rơi đứa con của mình giữa Đức Phật và Nāḷāgiri. Con voi lao tới, nhưng Đức Phật, với lòng từ bi vô hạn, đã dùng giọng nói uy nghiêm và dịu dàng để trấn an nó. Sức mạnh từ sự hiện diện của Đức Phật đã xua tan cơn say của con voi, và nó trở nên hiền lành. Nó tiến đến gần Đức Phật một cách ngoan ngoãn, quỳ xuống trước Ngài, và được thiết lập trong giới luật đạo đức. Mọi người vui mừng, trang trí cho con voi bằng đồ trang sức, và từ đó trở đi nó được gọi là Dhanapālaka và không bao giờ làm hại ai nữa.
Đức Phật, sau khi hoàn thành việc này và chế ngự các phe phái thù địch, đã rời thành phố cùng các vị tỳ kheo và trở về khu rừng Trúc Lâm. Dân chúng đi theo với những lễ vật dồi dào, và một buổi bố thí lớn đã diễn ra. Tối hôm đó, khi các vị tỳ kheo tụ họp trong Chánh điện, họ ca ngợi sự sẵn sàng hy sinh tính mạng của Ānanda vì Đức Phật. Nghe cuộc thảo luận này, Đức Phật đã đến và giải thích rằng lòng tận tụy của Ānanda không phải là điều mới mẻ mà đã tồn tại ngay cả trong những kiếp trước. Sau đó, Ngài kể một câu chuyện về thời xa xưa.
Ngày xưa, tại vương quốc Mahimsaka, gần thành phố Sākula, có một vị vua chính trực tên là Sākula. Gần thành phố đó có một hồ sen rộng lớn tên là Manusiya, nơi chim chóc tụ tập rất đông. Một người thợ săn kiếm sống bằng cách đặt bẫy ở đó. Vào thời điểm đó, Bồ Tát là vua của loài ngỗng Dhatarattha, sống cùng một đàn lớn trên núi Cittakūṭa, và chỉ huy của ngài là một con ngỗng tên là Sumukha.
Khi đàn ngỗng đến hồ để kiếm ăn, Bồ Tát bị mắc vào một cái bẫy giấu kín và bị thương nặng. Chịu đựng nỗi đau một cách im lặng, ngài cho phép đàn của mình ăn uống và rời đi an toàn trước khi báo hiệu việc mình bị bắt. Sumukha, nhận thấy sự vắng mặt của ngài, đã quay lại và tìm thấy Bồ Tát bị mắc kẹt và chảy máu. Từ chối bỏ rơi vua của mình, Sumukha quyết định ở lại với ngài, ngay cả khi phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.
Khi người thợ săn đến và thấy một con ngỗng bị mắc bẫy và một con khác tự nguyện ở lại vì lòng trung thành, ông ta vô cùng cảm động trước lòng tận tụy của Sumukha. Nhờ lời lẽ nhẹ nhàng và sự sẵn sàng hy sinh bản thân thay cho vua của Sumukha, trái tim của người thợ săn đã mềm lại. Ông ta thả Bồ Tát ra, chăm sóc vết thương cho ngài, và nhờ sức mạnh của lòng từ bi, vết thương đã lành hoàn toàn.
Vì lòng biết ơn, đàn ngỗng đã thuyết phục người thợ săn đưa chúng đến gặp vua Sākula, hứa rằng ông ta sẽ được thưởng. Người thợ săn đã làm như vậy và kể lại tất cả những gì đã xảy ra một cách trung thực. Nhà vua đã tôn kính đàn ngỗng, thưởng cho người thợ săn rất nhiều của cải và đất đai, và lắng nghe chăm chú lời dạy của Bồ Tát. Vô cùng cảm động, nhà vua đã đề nghị dâng cả vương quốc của mình, nhưng Bồ Tát từ chối, thay vào đó khuyên nhà vua hãy cai trị một cách công bằng, tránh xa điều ác, trau dồi đức hạnh và cai trị bằng lòng nhân ái và sự chính trực.
Những con ngỗng sau đó được phép rời đi và vui mừng trở về với đồng loại, những người đã ăn mừng sự trở về an toàn của chúng và ca ngợi lòng trung thành của Sumukha, lòng từ bi của người bắt chim và sự công chính của nhà vua.
Sau khi kể xong câu chuyện này, Đức Phật kết luận bằng cách xác định các nhân vật trong câu chuyện. Người bắt chim là Channa, vua Sākula là Sāriputta, Sumukha là Ānanda, đàn ngỗng là các đệ tử của Đức Phật, và vua ngỗng chính là Đức Phật. Như vậy, Đức Phật đã cho thấy rằng sự sẵn lòng hy sinh mạng sống của Ānanda vì Ngài là một đức tính đã được hoàn thiện qua nhiều kiếp sống.
.... o ....
J533. Cullahamsa Jātaka -- A Buddhist ruler should govern with kindness and moral integrity.
Summary: Elder Ānanda attempts to protect the Buddha when Devadatta sends an elephant to kill him. The Buddha then tells a story about a hunter who caught a golden goose and his general who stood by him, along with the lessons he imparted to the king.
.
While dwelling in the Bamboo Grove, the Buddha related a story concerning the venerable Ānanda and his willingness to renounce his life for the sake of the Tathāgata. The occasion arose after Devadatta, failing to have the Buddha slain by hired archers, resolved to kill him himself. As the Buddha was walking in the shadow cast by Vulture’s Peak, Devadatta climbed the mountain and hurled down a massive stone, intending to kill him. Two rocky crags met and stopped the stone, but a splinter flew off and struck the Buddha’s foot, drawing blood and causing severe pain. The physician Jīvaka treated the wound by releasing the corrupted blood, removing the damaged flesh, and applying healing medicine, after which the Buddha recovered and resumed his usual conduct, moving calmly among the monks with undiminished majesty.
Seeing that even this attempt had failed, Devadatta conceived another plan. Knowing that the royal elephant Nāḷāgiri was fierce and untrained in reverence for the Buddha, he persuaded King Ajātasattu to have the elephant intoxicated and released into the street where the Buddha customarily walked for alms. The king consented. Nāḷāgiri was given an excessive amount of strong drink and provoked with goads, then driven out at dawn. A public proclamation warned the citizens to remain indoors.
When the lay followers learned of this plot, they begged the Buddha not to enter the city. The Buddha agreed in such a way that he would confront the danger and at the same time fulfill their wish. During the night he taught the Dhamma, answered questions, rested briefly, and then, contemplating the welfare of beings, foresaw that his encounter with the elephant would lead many thousands to gain insight into the teaching. At daybreak he summoned Ānanda to gather the monks from the surrounding monasteries, and together they entered Rājagaha.
The city filled with spectators. Some, faithful to the Buddha, anticipated the triumph of compassion over brute force; others expected the Buddha’s destruction. Nāḷāgiri, maddened by drink, charged through the streets, smashing carts and terrifying the people. When the monks saw the elephant rushing toward them, many offered themselves to confront it, but the Buddha refused all such offers. Ānanda, unable to endure the thought of harm coming to the Buddha, placed himself in front of him, ready to sacrifice his life. Despite repeated attempts to restrain him, he remained firm until the Buddha, by supernatural power, gently removed him and placed him safely among the monks.
At that moment a terrified woman fleeing the elephant dropped her child between the Buddha and Nāḷāgiri. The elephant rushed forward, but the Buddha, moved by boundless compassion, addressed it with calming authority. The force of the Buddha’s presence dispelled the intoxication, and the elephant became gentle. It approached the Buddha submissively, knelt before him, and was established in moral restraint. The people rejoiced, adorning the elephant with ornaments, and from that time onward it was known as Dhanapālaka and never again harmed anyone.
The Buddha, having accomplished this act and subdued the hostile factions, left the city with the monks and returned to the Bamboo Grove. The citizens followed with abundant offerings, and a great almsgiving took place. That evening, as the monks gathered in the Hall of Truth, they praised Ānanda’s readiness to give his life for the Buddha. Hearing this discussion, the Buddha joined them and explained that Ānanda’s devotion was not new but had existed even in former lives. He then told a story of the distant past.
Long ago, in the kingdom of Mahimsaka, near the city of Sākula, there lived a righteous king named Sākula. Near that city lay a vast lotus lake called Manusiya, where birds gathered in great numbers. A fowler made his living there by setting snares. At that time the Bodhisatta was king of the Dhatarattha geese, dwelling with a great flock on Mount Cittakūṭa, and his commander was a goose named Sumukha.
When the geese came to feed at the lake, the Bodhisatta became caught in a hidden snare and was grievously wounded. Enduring the pain silently, he allowed his flock to feed and depart safely before signaling his capture. Sumukha, noticing his absence, returned and found the Bodhisatta trapped and bleeding. Refusing to abandon his king, Sumukha resolved to remain with him, even at the cost of his own life.
When the fowler arrived and saw one goose trapped and another freely staying behind out of loyalty, he was deeply moved by Sumukha’s devotion. Through Sumukha’s gentle reasoning and selfless willingness to die in place of his king, the fowler’s heart softened. He released the Bodhisatta, tended his wound, and through the power of compassion the injury healed completely.
Out of gratitude, the geese persuaded the fowler to bring them before King Sākula, promising that he would be rewarded. The fowler did so and truthfully recounted all that had happened. The king honored the geese, rewarded the fowler with great wealth and lands, and listened attentively to the teaching given by the Bodhisatta. Deeply impressed, he offered his kingdom itself, but the Bodhisatta declined, instead instructing him to rule righteously, avoid vice, cultivate virtue, and govern by kindness and moral integrity.
The geese were then allowed to depart and returned joyfully to their kin, who celebrated their safe return and praised the loyalty of Sumukha, the compassion of the fowler, and the righteousness of the king.
Having completed this account, the Buddha concluded by identifying the characters of the story. The fowler had been Channa, King Sākula had been Sāriputta, Sumukha had been Ānanda, the flock of geese had been the Buddha’s followers, and the goose-king had been the Buddha himself. Thus the Buddha showed that Ānanda’s willingness to renounce his life for him was a virtue perfected over many lifetimes.
.... o ....
J534. Mahahamsa Jātaka -- Câu chuyện về con ngỗng vàng
Tóm tắt: Trưởng lão Ānanda cố gắng bảo vệ Đức Phật khi Devadatta sai một con voi đến giết ngài. Sau đó, Đức Phật kể một câu chuyện về một người thợ săn bắt được một con ngỗng vàng và vị tướng quân luôn sát cánh bên ông ta, cùng với những bài học mà ông ta đã truyền dạy cho nhà vua.
.
Khi đang cư trú tại khu rừng tre, Đức Phật kể một câu chuyện về sự sẵn lòng hy sinh mạng sống của trưởng lão Ānanda. Hoàn cảnh và bối cảnh dẫn nhập giống như trong câu chuyện đã kể trước đó, nhưng lần này Đức Phật minh họa vấn đề bằng cách kể lại một câu chuyện từ kiếp trước.
Trong quá khứ xa xưa, tại Benares, có một vị vua tên là Samyama, vợ chính của ông là Hoàng hậu Khema. Lúc đó, Bồ Tát sống trên núi Cittakuta với tư cách là vua của loài ngỗng Dhatarattha, được bao quanh bởi một đoàn tùy tùng gồm chín mươi nghìn con ngỗng vàng. Một đêm, Hoàng hậu Khema mơ thấy những con ngỗng vàng bay xuống cung điện, đậu trên ngai vàng và thuyết giảng Phật pháp bằng giọng nói ngọt ngào và đầy sức thuyết phục. Khi bà đang lắng nghe một cách thích thú, bình minh ló dạng và những con ngỗng bay đi qua một cửa sổ mở. Tỉnh dậy đột ngột, hoàng hậu nhận ra rằng đó chỉ là một giấc mơ, nhưng nỗi khao khát được nghe lời dạy của những con ngỗng đó vẫn còn mạnh mẽ.
Tin rằng ước muốn của mình chỉ có thể được thỏa mãn nếu được trình bày như một nhu cầu cấp thiết, hoàng hậu giả vờ bị bệnh và nói rằng mình thèm ăn như phụ nữ mang thai. Vua Samyama, lo lắng cho tính mạng của bà, hứa sẽ đáp ứng nguyện vọng của bà nếu có thể. Sau khi tham khảo ý kiến các quan đại thần, các vị Bà la môn và những người nuôi chim, nhà vua biết rằng truyền thuyết kể về những con ngỗng vàng thông thái thuộc dòng dõi Dhatarattha sống trên dãy Himalaya, trên núi Cittakuta. Theo lời khuyên của các vị Bà la môn, ông ra lệnh đào một cái hồ lớn ở phía bắc Benares, đổ đầy nước, trồng ngũ cốc và trang trí bằng năm loại hoa sen. Hồ được tuyên bố là khu bảo tồn, được bảo vệ nghiêm ngặt và giao cho một người nuôi chim lành nghề tên là Khemaka, người bị cấm săn bắn và được giao nhiệm vụ bảo vệ những con chim đến kiếm ăn ở đó.
Theo thời gian, nhiều loại chim và ngỗng đã đến, bị thu hút bởi những lời đồn về sự an toàn và nguồn thức ăn dồi dào của hồ. Cuối cùng, những con ngỗng paka, vốn có quan hệ hôn nhân với ngỗng Dhatarattha, bắt đầu đến kiếm ăn ở đó và ca ngợi hồ với những người theo Bồ Tát. Mặc dù Bồ Tát nghi ngờ sự lừa dối của con người, nhưng ngài vẫn quyết định đến thăm hồ để người thân của ngài không bị làm phiền vì ngài. Cùng với đàn ngỗng đông đảo của mình, ngài đã kiếm ăn ở đó vài ngày rồi trở về núi Cittakuta. Quan sát hành vi của Bồ Tát, người thợ săn nhận thấy chỉ có con ngỗng này ăn uống một cách có phương pháp, không tham lam, và nhận ra đó chính là vua của bầy ngỗng. Sau khi quan sát kỹ lưỡng, Khemaka đặt một chiếc bẫy bằng lông ngựa chắc chắn vào đúng vị trí mà Bồ Tát thường đậu xuống. Đến ngày thứ bảy, chân của Bồ Tát bị mắc vào bẫy. Chịu đựng nỗi đau dữ dội, ngài không giãy giụa để tránh bị thương nặng hơn và trì hoãn việc kêu cứu cho đến khi bầy ngỗng đã ăn xong và bay đi an toàn.
Khi Sumukha, vị tướng quân thân cận của Bồ Tát, phát hiện ra sự vắng mặt của ngài, anh ta quay trở lại và tìm thấy vua của mình bị mắc bẫy và bị thương. Từ chối bỏ rơi ngài, Sumukha quyết định ở lại, ngay cả khi phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Bồ Tát, để thử lòng trung thành của Sumukha, quan sát xem liệu anh ta có bỏ chạy khi nguy hiểm đến gần hay không. Sumukha vẫn kiên định, thể hiện lòng trung thành không lay chuyển.
Khi người thợ săn trở về và thấy Sumukha đứng bên cạnh vị vua bị bắt giữ, ông ta vô cùng kinh ngạc. Nhờ hành động, tài hùng biện và sự sẵn sàng hy sinh bản thân của Sumukha, trái tim người thợ săn đã được cảm hóa. Vô cùng kính phục, ông ta thả Bồ Tát ra khỏi bẫy, chữa trị vết thương cho ngài, và nhờ sức mạnh của ý định thiện lành, vết thương đã lành hoàn toàn.
Biết rằng việc bắt giữ là do lệnh của vua Samyama, Sumukha suy luận rằng nếu trở về núi Cittakuta ngay lập tức, điều ước của hoàng hậu sẽ không được thực hiện, nhà vua sẽ không nhận được lời dạy, và người thợ săn sẽ không được thưởng. Do đó, ông thuyết phục người thợ săn dâng cả hai con ngỗng cho nhà vua, không phải với tư cách là tù nhân mà với sự tôn kính. Chúng được đặt trong những chiếc lồng trang trí bằng hoa sen và được đưa đến Benares, nơi sự xuất hiện của những con ngỗng vàng đã gây ra sự kinh ngạc lớn.
Vua Samyama tiếp đón chúng với sự tôn kính và thưởng cho người thợ săn rất hậu hĩnh. Sau khi nghe kể về việc Bồ Tát bị bắt giữ và lòng tận tụy của Sumukha đã giúp ngài được giải thoát, nhà vua muốn nghe lời dạy của Pháp. Sumukha khiển trách nhà vua về sự lừa dối khi tuyên bố hồ là nơi trú ẩn an toàn trong khi bí mật dùng nó làm bẫy, nhấn mạnh hậu quả đạo đức của sự dối trá đó. Nhà vua thừa nhận lỗi lầm của mình và tuyên bố rằng ý định của ông là muốn nghe lời dạy, chứ không phải làm hại những con ngỗng.
Bồ Tát và Sumukha sau đó được trọng vọng với những chiếc ghế vàng, được dâng thức ăn ngon và được đối xử với sự kính trọng lớn. Bồ Tát hỏi nhà vua về việc cai trị, hành vi, các cố vấn, công lý và việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức của ông, và thấy rằng ông phần lớn là người chính trực. Khi Sumukha nói những lời khiển trách gay gắt, sau đó ông đã xin lỗi, và nhà vua đã tha thứ cho ông.
Hài lòng với lời dạy và sự chính trực của những con ngỗng, vua Samyama đề nghị dâng toàn bộ vương quốc của mình cho chúng. Bồ Tát từ chối quyền cai trị, thay vào đó hướng dẫn nhà vua về bổn phận của một người cai trị chính trực và giúp ông vững vàng trong năm giới luật. Lòng mong mỏi của hoàng hậu Khema đã được thỏa mãn, vì bà đã được nghe Pháp do những con ngỗng vàng giảng dạy trên ngai vàng hoàng gia.
Vào lúc bình minh, sau khi được tôn kính bằng những lễ vật và sự kính trọng, Bồ Tát và Sumukha được thả tự do. Bay lên bầu trời, chúng trở về núi Cittakuta, nơi đàn ngỗng đông đảo của chúng vui mừng chào đón chúng. Bồ Tát kể lại câu chuyện thoát hiểm của mình, ca ngợi lòng trung thành của Sumukha, lòng từ bi của người thợ săn và sự công chính cuối cùng của nhà vua. Vui mừng, đàn ngỗng cùng nhau ăn mừng sự trở về an toàn.
Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Phật đã xác định các nhân vật trong quá khứ. Người thợ săn chính là Channa, Hoàng hậu Khema là ni sư Khema, Vua Samyama là Sāriputta, tùy tùng của nhà vua là các đệ tử của Đức Phật, Sumukha là Ānanda, và vua ngỗng chính là Đức Phật.
.... o ....
J534. Mahahamsa Jātaka -- Story about the Golden Goose
Summary: Elder Ānanda attempts to protect the Buddha when Devadatta sends an elephant to kill him. The Buddha then tells a story about a hunter who caught a golden goose and his general who stood by him, along with the lessons he imparted to the king.
.
While residing in the Bamboo Grove, the Buddha related a story concerning the elder Ānanda’s willingness to renounce his life. The occasion and introductory circumstances were the same as in a previously told account, but on this occasion the Buddha illustrated the matter by recounting a tale from a former life.
In the distant past, at Benares, there ruled a king named Samyama, whose chief consort was Queen Khema. At that time the Bodhisatta dwelt on Mount Cittakuta as king of the Dhatarattha geese, surrounded by a retinue of ninety thousand golden geese. One night Queen Khema dreamed that golden geese descended into the palace, perched upon the royal throne, and expounded the Law with a sweet and compelling voice. As she listened with delight, dawn broke and the geese departed through an open window. Awakening suddenly, the queen realized that the vision had been a dream, yet her longing to hear the teaching of such geese remained strong.
Believing that her desire would only be fulfilled if it were presented as a grave necessity, the queen feigned illness and claimed the craving of a pregnant woman. King Samyama, concerned for her life, promised to satisfy her wish if it were possible. After consulting his ministers, brahmins, and fowlers, the king learned that tradition spoke of wise golden geese of the Dhatarattha lineage dwelling in the Himalayas on Mount Cittakuta. Acting on the advice of the brahmins, he ordered a great lake to be dug north of Benares, filled with water, planted with grain, and adorned with five kinds of lotus. The lake was proclaimed a sanctuary, guarded strictly, and entrusted to a skilled fowler named Khemaka, who was forbidden to hunt and was instead charged with protecting the birds that came to feed there.
In time, many kinds of birds and geese arrived, drawn by reports of the lake’s safety and abundance. Eventually the paka geese, who were allied by marriage to the Dhatarattha geese, began feeding there and praised the lake to the Bodhisatta’s followers. Although the Bodhisatta suspected human deceit, he chose to visit the lake so that his kin might not be troubled on his account. Accompanied by his vast flock, he fed there for several days and then returned to Mount Cittakuta.
Observing the Bodhisatta’s behavior, the fowler discerned that this goose alone fed methodically, free from greed, and recognized him as their king. After careful observation, Khemaka set a strong horse-hair snare at the precise spot where the Bodhisatta habitually alighted. On the seventh day, the Bodhisatta’s foot was caught in the noose. Enduring intense pain, he refrained from struggling further to avoid permanent injury and delayed calling out until his flock had fed and flown safely away.
When Sumukha, the Bodhisatta’s chief captain, discovered his absence, he returned and found his king ensnared and wounded. Refusing to abandon him, Sumukha resolved to remain, even at the cost of his own life. The Bodhisatta, testing his loyalty, observed whether Sumukha would flee when danger approached. Sumukha remained steadfast, displaying unwavering devotion.
When the fowler returned and saw Sumukha standing by the captive king, he was astonished. Through Sumukha’s conduct, eloquence, and willingness to sacrifice himself, the fowler’s heart was transformed. Overcome with reverence, he released the Bodhisatta from the snare, tended his wound, and through the power of his virtuous intention the injury healed completely.
Learning that the capture had been ordered by King Samyama, Sumukha reasoned that returning immediately to Mount Cittakuta would prevent the queen’s wish from being fulfilled, the king from receiving instruction, and the fowler from being rewarded. Therefore, he persuaded the fowler to present both geese to the king, not as captives but with honor. They were placed in lotus-adorned cages and carried to Benares, where the arrival of the golden geese caused great wonder.
King Samyama received them with honor and rewarded the fowler lavishly. Upon hearing how the Bodhisatta had been captured and how Sumukha’s devotion had brought about his release, the king desired to hear the teaching of the Law. Sumukha reproved the king for the deception involved in declaring the lake a sanctuary while secretly using it as a trap, emphasizing the moral consequences of such falsehood. The king acknowledged his fault and declared that his intention had been to hear the teaching, not to harm the geese.
The Bodhisatta and Sumukha were then honored with seats of gold, offered fine food, and treated with great reverence. The Bodhisatta examined the king concerning his rule, his conduct, his counselors, his justice, and his observance of moral principles, and found him largely righteous. When Sumukha spoke harshly in reproach, he later sought forgiveness, which the king freely granted.
Pleased by the teaching and the integrity of the geese, King Samyama offered them his entire kingdom. The Bodhisatta declined sovereignty, instead instructing the king in the duties of righteous rule and establishing him firmly in the five moral precepts. Queen Khema’s longing was fulfilled, for she had heard the Law taught by golden geese upon the royal throne.
At dawn, after being honored with offerings and homage, the Bodhisatta and Sumukha were released. Rising into the sky, they returned to Mount Cittakuta, where their vast flock came forth to greet them joyfully. The Bodhisatta recounted his escape, praising Sumukha’s loyalty, the fowler’s compassion, and the king’s eventual righteousness. Rejoicing, the geese celebrated their safe return.
Having completed the story, the Buddha identified the characters of the past. The fowler had been Channa, Queen Khema had been the nun Khema, King Samyama had been Sāriputta, the king’s retinue had been the Buddha’s followers, Sumukha had been Ānanda, and the goose-king had been the Buddha himself.
.... o ....
J535. Sudhabhojana Jātaka -- Không bao giờ được ăn bất cứ thứ gì mà không chia sẻ với người khác.
Tóm tắt: Một vị sư sẽ không ăn nếu chưa chia sẻ thức ăn của mình. Đức Phật kể câu chuyện về việc một người keo kiệt đã được cảm hóa, cuối cùng đã cho đi toàn bộ tài sản của mình và trở thành một nhà tu khổ hạnh. Sau đó, ông được yêu cầu đánh giá ai là người tốt nhất trong số bốn người con gái của Sakka.
.
Khi đang cư ngụ tại Jetavana, Đức Phật kể một câu chuyện về một vị tỳ kheo vô cùng hào phóng. Vị tỳ kheo này sinh ra trong một gia đình danh giá ở Sāvatthī. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, ông từ bỏ cuộc sống gia đình và xuất gia. Ông tuân thủ giới luật một cách hoàn hảo, thực hành các hạnh khổ hạnh và nuôi dưỡng lòng từ bi đối với các vị tỳ kheo khác. Mỗi ngày ba lần, ông tận tâm phụng sự Đức Phật, Giáo pháp và Tăng đoàn. Bất cứ thứ gì nhận được, miễn là có người khác cần, ông đều cho đi cho đến khi không còn gì cho bản thân. Ngay cả một nắm nước nhỏ ông cũng không uống mà không chia sẻ. Hạnh kiểm của ông rất gương mẫu, và lòng hào phóng của ông được nhiều người biết đến trong giới tăng sĩ.
Một ngày nọ, khi các vị tỳ kheo đang tụ họp trong Chánh điện, họ nói lời ca ngợi lòng hào phóng của vị tỳ kheo này, nhận xét rằng tính cách của ông giống như một vị Bồ Tát. Đức Phật, nghe được cuộc thảo luận này bằng thần thông, liền đến và giải thích rằng mặc dù vị tỳ kheo hiện nay rất hào phóng, nhưng trong kiếp trước ông lại vô cùng keo kiệt. Nhờ sự hướng dẫn về quả báo của việc bố thí, Đức Phật đã chuyển hóa ông và giúp ông vững chắc trong việc bố thí. Để minh họa cho sự chuyển hóa này, Đức Phật kể một câu chuyện trong quá khứ.
Vào thời xa xưa, khi Brahmadatta trị vì ở Benares, có một gia chủ giàu có sở hữu tám mươi triệu đồng tiền vàng. Vì tài năng và sự liêm chính của mình, nhà vua đã bổ nhiệm ông làm quan thủ quỹ hoàng gia. Suy ngẫm về sự giàu có của mình, vị thủ quỹ kết luận rằng vận may này chắc chắn đến từ đức hạnh trong quá khứ và quyết tâm đảm bảo hạnh phúc trong tương lai bằng cách bố thí. Với sự đồng ý của nhà vua, ông đã xây dựng sáu nhà bố thí khắp thành phố và phân phát những món quà lớn mỗi ngày. Ông dặn dò con cháu không bao giờ được từ bỏ truyền thống này. Sau khi qua đời, ông được tái sinh làm Sakka, vua của các vị thần.
Con trai ông tiếp tục thực hành bố thí và được tái sinh làm vị thần Canda. Con trai của Canda được tái sinh làm Suriya, con trai của Suriya làm Matali, và con trai của Matali làm Pancasikha. Tuy nhiên, người con cháu thứ sáu, tên là Maccharikosiya, thừa kế tám mươi triệu đồng tiền vàng nhưng lại từ bỏ truyền thống gia đình. Tin rằng tổ tiên của mình thật ngu ngốc khi cho đi của cải, ông đã phá hủy các nhà bố thí và quyết định không bao giờ cho bất cứ thứ gì cho bất cứ ai. Những người ăn xin từng dựa vào lòng hào phóng của gia đình đã bị đuổi đi, và Maccharikosiya sống trong cảnh keo kiệt tột cùng. Ông ta không tận hưởng sự giàu có của mình cũng không chia sẻ nó với người khác. Ông ta ăn mặc tồi tàn, ăn những món ăn thô sơ nhất, sử dụng những phương tiện đi lại cũ nát và sống trong nỗi sợ hãi khi phải chi tiêu dù chỉ là một khoản tiền nhỏ nhất.
Một ngày nọ, khi đi cùng người phụ trách kho bạc đến cung điện, Maccharikosiya chứng kiến ông ta thưởng thức món cháo gạo ngon lành được nấu với bơ và đường. Một cơn thèm khát mãnh liệt trỗi dậy trong ông ta, nhưng nỗi sợ tốn kém đã ngăn cản ông ta nhận thức ăn hoặc thừa nhận ham muốn của mình. Cơn thèm khát giày vò ông ta đến mức ông ta trở nên yếu ớt và ốm yếu. Cuối cùng, ông ta thú nhận ham muốn của mình với vợ nhưng nhất quyết yêu cầu cháo phải được nấu bí mật trong rừng để không ai khác có thể ăn được.
Ông ta một mình đến một bờ sông hẻo lánh và chuẩn bị nấu cháo. Lúc đó, Sakka, đang suy ngẫm trên thiên giới về những công đức đã dẫn đến sự tái sinh thần thánh của mình, nhận thấy rằng hậu duệ của mình đã phá hủy truyền thống hào phóng của gia đình và sẽ phải chịu một kiếp tái sinh khốn khổ. Vì lòng từ bi, Sakka quyết định can thiệp. Cùng với Canda, Suriya, Matali và Pancasikha, ông xuống trần gian, hóa thân thành những vị Bà La Môn. Lần lượt, họ đến gặp Maccharikosiya khi ông ta đang nấu ăn. Mặc dù ông ta phản kháng dữ dội, mỗi vị khách dần dần thuyết phục ông ta hứa sẽ chia sẻ một phần nhỏ thức ăn.
Khi cháo nấu xong, Maccharikosiya dâng cháo cho năm vị khách. Thông qua một màn trình diễn siêu nhiên nhằm phá tan sự tham lam, sợ hãi và ảo tưởng của ông ta, các vị khách đã tiết lộ bản chất thần thánh của mình. Sakka sau đó giải thích hậu quả của sự keo kiệt và phần thưởng của lòng hào phóng, làm rõ rằng họ đến không phải vì thức ăn mà vì lòng từ bi để cứu ông ta khỏi một kiếp tái sinh thảm khốc. Bị chấn động sâu sắc, Maccharikosiya hối hận. Ông thề sẽ từ bỏ sự keo kiệt, cho đi một cách rộng lượng và không bao giờ ăn bất cứ thứ gì mà không chia sẻ.
Sau khi cải hóa ông ta, Sakka trở về thiên giới. Maccharikosiya xin phép nhà vua để phân phát tài sản của mình một cách tự do, cho phép người nghèo lấy bất cứ thứ gì họ có thể mang đi. Sau đó, ông từ bỏ cuộc sống gia đình, trở thành một nhà khổ hạnh ở dãy Himalaya, sống bằng rễ cây và trái cây, thực hành lòng hào phóng và sự tiết chế cho đến khi già.
Vào thời điểm đó, Sakka muốn xác định xem trong bốn người con gái của mình—Hy vọng, Đức tin, Vinh quang và Danh dự—ai là người xứng đáng nhất. Ông đã nghĩ ra một bài kiểm tra bằng cách gửi thức ăn thần thánh đến nhà khổ hạnh Kosiya, biết rằng Kosiya sẽ chỉ cho người xứng đáng nhất. Lần lượt, bốn nàng tiên xuất hiện trước nhà khổ hạnh. Ông từ chối Vinh quang, Hy vọng và Đức tin sau khi nhận ra những nguy hiểm về mặt đạo đức liên quan đến mỗi người. Chỉ có Danh dự, được đánh dấu bằng sự khiêm nhường, tiết chế và sự kiên định về đạo đức, được coi là xứng đáng. Chỉ riêng nàng mới được nhận thức ăn thần thánh.
Sakka, muốn xác nhận, đã cử Matali đến hỏi thêm. Kosiya giải thích rằng Danh dự kiềm chế dục vọng, củng cố đức hạnh và ngăn chặn sự suy đồi đạo đức trong cả hoàn cảnh bình yên và nguy hiểm. Trong khi Matali vẫn còn ở đó, cuộc đời của Kosiya kết thúc. Nhờ sức mạnh của lòng hào phóng hoàn hảo, ông ta lập tức được tái sinh ở cõi trời Ba mươi ba. Ông được Sakka đón tiếp trọng thể, được Sakka gả con gái tên là Danh dự làm vợ và ban cho quyền lực tối cao trên cõi trời.
Đức Phật kết thúc bài thuyết pháp bằng cách giải thích rằng đây không phải là lần đầu tiên Ngài cảm hóa được người keo kiệt này. Sau đó, Ngài xác định các nhân vật trong câu chuyện: Uppalavaṇṇā chính là Honour, vị tỳ kheo hào phóng là Kosiya, Anuruddha là Pancasikha, Ānanda là Matali, Kassapa là Suriya, Moggallāna là Canda, Sāriputta là Nārada, và chính Đức Phật là Sakka.
.... o ....
J535. Sudhabhojana Jātaka -- Never consume anything without sharing it.
Summary: One monk will not eat without first sharing his food. The Buddha tells a story of how a miser was converted, eventually giving away his fortune and becoming an ascetic. He is then asked to judge who is the best among the four daughters of Sakka.
.
While dwelling at Jetavana, the Buddha told a story concerning a monk who was exceptionally generous. This monk had been born into a respectable family at Sāvatthī. After hearing the Buddha teach the Dhamma, he renounced household life and entered the Order. He perfected moral discipline, observed the ascetic practices, and cultivated a heart full of loving-kindness toward his fellow monks. Three times daily he devoted himself to service of the Buddha, the Dhamma, and the Saṅgha. Whatever he received, so long as there were others in need, he would give away until nothing remained for himself. Even a mere handful of water would not be consumed without sharing it. His conduct was exemplary, and his generosity became widely known among the monks.
One day, while the monks were assembled in the Hall of Truth, they spoke in praise of this monk’s liberality, remarking that his disposition resembled that of a Bodhisatta. The Buddha, hearing this discussion through his divine faculty, approached and explained that although the monk was now generous, in a former life he had been exceedingly miserly. Through instruction on the fruits of giving, the Buddha had transformed him and firmly established him in almsgiving. To illustrate this transformation, the Buddha related a story of the past.
In ancient times, when Brahmadatta ruled at Benares, there lived a wealthy householder who possessed eighty crores of wealth. Because of his competence and integrity, the king appointed him royal treasurer. Reflecting on his prosperity, the treasurer concluded that such fortune must have arisen from past virtue and resolved to secure future well-being through charity. With the king’s consent, he built six alms-halls throughout the city and dispensed great daily offerings. He instructed his descendants never to abandon this tradition. Upon his death, he was reborn as Sakka, king of the gods.
His son continued the practice of generosity and was reborn as the deity Canda. Canda’s son was reborn as Suriya, Suriya’s son as Matali, and Matali’s son as Pancasikha. The sixth descendant, however, named Maccharikosiya, inherited the eighty crores but rejected the family tradition. Believing his ancestors foolish for giving away wealth, he demolished the alms-halls and resolved never to give anything to anyone. Beggars who once relied on the family’s generosity were driven away, and Maccharikosiya lived in extreme miserliness. He neither enjoyed his wealth nor shared it with others. He dressed poorly, ate the coarsest food, used broken conveyances, and lived in fear of spending even the smallest amount.
One day, while accompanying the sub-treasurer to the palace, Maccharikosiya witnessed him enjoying rich rice porridge prepared with ghee and sugar. A powerful craving arose in him, but fear of expense prevented him from accepting food or admitting his desire. The craving consumed him inwardly until he grew weak and ill. Eventually, he confessed his desire to his wife but insisted that the porridge be cooked secretly in the forest so that no one else might partake of it.
He went alone to a secluded riverside and prepared the porridge. At that moment, Sakka, reflecting in heaven on the merits that had led to his divine rebirth, perceived that his descendant had destroyed the family tradition of generosity and was bound for a miserable rebirth. Out of compassion, Sakka resolved to intervene. Accompanied by Canda, Suriya, Matali, and Pancasikha, he descended to the human world, assuming the appearance of brahmins. One by one, they approached Maccharikosiya while he cooked his food. Though he resisted intensely, each visitor gradually extracted from him a reluctant promise to share a small portion.
When the porridge was finished, Maccharikosiya served the five visitors. Through a supernatural display intended to shatter his attachment, fear, and delusion, the visitors revealed their divine nature. Sakka then explained the consequences of miserliness and the rewards of generosity, making clear that they had come not for food but out of compassion to save him from a disastrous rebirth. Deeply shaken, Maccharikosiya repented. He vowed to abandon stinginess, to give freely, and never again to consume anything without sharing.
Having transformed him, Sakka returned to heaven. Maccharikosiya sought the king’s permission to distribute his wealth freely, allowing the poor to take whatever they could carry. Thereafter, he renounced household life, became an ascetic in the Himalayas, and lived on roots and fruits, practicing generosity and restraint until old age.
At that time, Sakka sought to determine which of his four daughters—Hope, Faith, Glory, and Honour—was most worthy. He devised a test by sending ambrosial food to the ascetic Kosiya, knowing that Kosiya would give it only to the most virtuous. One by one, the four nymphs appeared before the ascetic. He rejected Glory, Hope, and Faith after discerning the moral dangers associated with each. Honour alone, marked by humility, restraint, and moral firmness, was deemed worthy. To her alone the ambrosia was given.
Sakka, seeking confirmation, sent Matali to inquire further. Kosiya explained that Honour restrains desire, steadies virtue, and prevents moral collapse in both peaceful and dangerous circumstances. While Matali was still present, Kosiya’s life came to an end. Through the power of his perfected generosity, he was reborn immediately in the heaven of the Thirty-Three. He was received with honor by Sakka, who gave him his daughter Honour as consort and conferred upon him great celestial authority.
The Buddha concluded the discourse by explaining that this was not the first time he had converted this miserly being. He then identified the characters of the story: Uppalavaṇṇā had been Honour, the generous monk had been Kosiya, Anuruddha had been Pancasikha, Ānanda had been Matali, Kassapa had been Suriya, Moggallāna had been Canda, Sāriputta had been Nārada, and the Buddha himself had been Sakka.
.... o ....
J536. Kunala Jātaka -- Câu chuyện về Kuṇāla, vị vua của loài chim cu gáy.
Tóm tắt: Sau khi giải quyết cuộc chiến giữa bộ tộc Sākiyas và Koliyas, mỗi bộ tộc cử 250 thanh niên đến xuất gia. Tuy nhiên, những thanh niên này nhanh chóng cảm thấy không hài lòng với cuộc sống mới và nhớ nhung vợ cũ. Để giúp họ kiềm chế dục vọng, Đức Phật đưa họ đến dãy Himalaya và kể nhiều câu chuyện về sự bất thiện của phụ nữ.
.
Đức Phật đang trú ngụ bên hồ Kunala, được bao quanh bởi năm trăm vị Tỳ kheo đang vật lộn với sự dao động bất an. Ngài kể cho họ nghe một câu chuyện về hai bộ tộc Sakiya và Koliya, sống ở Kapilavatthu và Koliya. Hai bộ tộc này cùng sử dụng con sông Rohini để tưới tiêu cho mùa màng. Vào một mùa khô hạn, họ tranh giành nguồn nước, và cuộc tranh chấp leo thang thành một cuộc đối đầu bạo lực.
Đức Phật đã can thiệp, sử dụng thần thông của mình để xuất hiện giữa hai đội quân. Ngài hỏi họ lý do tại sao lại chiến đấu, và họ giải thích rằng đó là vì nguồn nước. Ngài chỉ ra rằng nước không đáng giá bằng mạng sống của họ và di sản cao quý của họ. Để minh họa cho luận điểm của mình, Ngài kể cho họ ba câu chuyện từ những kiếp trước của mình, nhấn mạnh những nguy hiểm của việc tranh chấp và lợi ích của sự đoàn kết.
Hai bộ tộc cảm động trước lời nói của Ngài và mỗi bộ tộc dâng tặng Ngài 250 hoàng tử để gia nhập giáo đoàn của Ngài. Đức Phật chấp nhận và truyền giới cho họ. Tuy nhiên, những vị Tỳ kheo mới sớm trở nên bất mãn, nhớ vợ và cuộc sống trước đây của mình. Đức Phật, nhận thấy nỗi khổ của họ, quyết định đưa họ đến dãy Himalaya.
Sử dụng thần thông của mình, Ngài đưa họ đến những ngọn núi hùng vĩ, cho họ thấy những kỳ quan của nó: những đỉnh núi vàng và pha lê, những hồ nước lấp lánh và những sinh vật kỳ lạ. Nỗi nhớ vợ của các vị Tỳ kheo bắt đầu tan biến khi họ chiêm ngưỡng vẻ đẹp xung quanh.
Sau đó, Đức Phật kể thêm một câu chuyện từ kiếp trước của mình, về một đàn chim từng hộ tống Ngài. Khi Ngài đang nói, một đàn chim cu bay ngang qua, mang theo chủ nhân của chúng trên một cành cây và tạo ra một bóng râm bảo vệ xung quanh Ngài. Các vị Tỳ kheo hỏi về những con chim, và Đức Phật giải thích rằng đó là một phong tục cổ xưa, một truyền thống do Ngài thiết lập trong một kiếp trước.
Lời nói của Đức Phật và khung cảnh ngoạn mục đã phát huy tác dụng, và sự bất mãn của các vị Tỳ kheo bắt đầu tan biến. Họ chăm chú lắng nghe khi Ngài tiếp tục giảng dạy, hướng dẫn họ đến giác ngộ.
Saccatapavi, một nữ tu sĩ áo trắng đáng kính, sống trong một túp lều lá trong nghĩa địa gần Benares. Bà nổi tiếng vì lối sống khổ hạnh, chỉ ăn một bữa trong năm bữa. Danh tiếng của bà lan rộng, và người dân địa phương thường cầu khấn tên bà để cầu may mắn.
Trong một lễ hội, một nhóm thợ kim hoàn tụ tập tại một quán rượu. Một người thợ kim hoàn, sau khi nôn mửa, đã ca ngợi Saccatapavi, khiến một người đàn ông khôn ngoan chế giễu đức hạnh của bà. Người đàn ông khôn ngoan đặt cược một nghìn đồng tiền vàng rằng ông ta có thể làm bại hoại Saccatapavi, và người thợ kim hoàn chấp nhận.
Ngụy trang thành một người tu khổ hạnh, người đàn ông khôn ngoan kết bạn với Saccatapavi, dần dần giành được lòng tin của bà. Ông ta thao túng bà, giả vờ chia sẻ những khát vọng tâm linh của bà, và cuối cùng đã quyến rũ bà.
Người đàn ông khôn ngoan đưa Saccatapavi đến quán rượu, nơi bà say rượu và bị giao cho những người thợ kim hoàn. Người đàn ông khôn ngoan thắng cuộc cá cược, và Saccatapavi cuối cùng sinh ra nhiều con với người thợ kim hoàn.
Kunala, vua chim, đã kể lại câu chuyện này để minh họa những nguy hiểm của sự cám dụ và sự không ổn định của phụ nữ.
Hoàng hậu của vua Kosala sinh hạ một hoàng tử, nhưng bà lo sợ vua Benares sẽ giết chết con trai mình. Bà giao đứa bé cho một người vú nuôi, người này đã bỏ đứa bé ở một bãi tha ma. Một con dê cái đã cho đứa bé bú sữa, và một người chăn dê tìm thấy cậu bé. Đàn dê của người chăn dê bắt đầu chết dần, vì vậy ông ta đặt đứa bé vào một cái bình và thả xuống sông.
Một người thợ sửa chữa thuộc tầng lớp thấp đã tìm thấy đứa bé và nuôi dưỡng cậu bé. Cậu bé lớn lên và làm việc trong cung điện, nơi cậu lọt vào mắt xanh của công chúa Kurangavi. Họ yêu nhau và có một mối tình vụng trộm.
Nhà vua phát hiện ra mối quan hệ của họ và vô cùng tức giận. Ông ta định trừng phạt cậu bé, nhưng hoàng hậu đã tiết lộ sự thật: cậu bé là con trai của bà, hoàng tử của Kosala. Nhà vua đã giết cha của hoàng tử và lấy hoàng hậu làm vợ.
Nhà vua rất vui mừng khi biết hoàng tử có dòng dõi cao quý. Ông cho hoàng tử tắm rửa, mặc quần áo đẹp và gả con gái mình cho cậu. Hoàng tử, giờ được gọi là Elakamara, được cử đi giành lại vương quốc của cha mình.
Vua Benares cử Chalangakumara đến dạy Elakamara các môn nghệ thuật. Nhưng Kurangavi sớm có hành vi không đứng đắn với Chalangakumara, và sau đó với một người hầu khác, Dhanantevasi. Câu chuyện này được kể để minh họa những nguy hiểm của những người phụ nữ độc ác.
Một vị vua của vương quốc Kosala đã chiếm lấy vương quốc Benares và cưới hoàng hậu của vị vua bị đánh bại làm vợ. Bà đang mang thai và sau đó sinh ra một người con trai. Vua yêu quý cậu bé và cho cậu được giáo dục chu đáo. Khi cậu bé lớn lên, cậu được cử đi giành lại vương quốc của cha mình và cai trị ở đó.
Hoàng hậu, muốn gặp con trai mình, đã đi đến Benares với một đoàn tùy tùng lớn. Bà dừng chân tại một thị trấn nằm giữa hai vương quốc, nơi bà gặp một chàng thanh niên Bà La Môn đẹp trai tên là Pancalacanda. Bà yêu chàng và có quan hệ tình ái với chàng.
Hành vi của hoàng hậu rất liều lĩnh, và bà tiếp tục gặp Pancalacanda trong những chuyến đi của mình. Kunala, vua chim, đã kể câu chuyện này để minh họa những nguy hiểm của sự lừa dối và không chung thủy của phụ nữ.
Kunala giải thích rằng phụ nữ có thể không chung thủy vì nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn như nghèo đói, bệnh tật hoặc bị bỏ bê. Ông liệt kê chín lý do khiến một người phụ nữ bị khiển trách, bao gồm thường xuyên đến các công viên và khu vườn, và thích uống rượu mạnh.
Kunala cũng mô tả bốn mươi cách một người phụ nữ có thể quyến rũ một người đàn ông và hai mươi lăm dấu hiệu của một người phụ nữ độc ác, bao gồm ca ngợi sự vắng mặt của chồng và có quan hệ thân mật với hàng xóm.
Câu chuyện nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tỉnh táo và thận trọng trong các mối quan hệ.
Một người đàn ông nghèo ở Benares có một người con gái tên là Pañcapāpā, bị coi là xấu xí vì có năm khuyết điểm về ngoại hình. Vua Baka của Benares gặp cô và bị thu hút bởi sự tiếp xúc với cô. Ông đã cưới cô làm hoàng hậu, bất chấp vẻ ngoài của cô.
Các hoàng hậu khác của nhà vua ghen tị và âm mưu chống lại Pañcapāpā. Họ thuyết phục nhà vua rằng cô là mối đe dọa đến tính mạng của ông, và ông đã cho cô lên thuyền trôi dạt xuống sông.
Pāvāriya, một vị vua khác, tìm thấy Pañcapāpā và cưới cô làm hoàng hậu. Baka phát hiện ra thân phận mới của cô và gây chiến với Pāvāriya. Cuối cùng, hai vị vua đồng ý chia sẻ Pañcapāpā, mỗi người ở với cô bảy ngày.
Tuy nhiên, Pañcapāpā đã không chung thủy, ngoại tình với một người lái thuyền khi đang ở trên sông. Kunala, vua chim, đã kể câu chuyện này để minh họa cho những nguy hiểm của sự lừa dối và không chung thủy của phụ nữ.
Kunala cũng kể những câu chuyện khác, bao gồm một câu chuyện về một hoàng hậu tên là Piṅgiyānī, người đã không chung thủy với chồng mình, Brahmadatta. Những câu chuyện này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tỉnh táo và thận trọng trong các mối quan hệ.
Vua kền kền Ānanda và đạo sĩ Nārada cũng nói về những nguy hiểm của sự lừa dối của phụ nữ, dẫn chứng những ví dụ về sự không chung thủy và thao túng của họ.
Sau khi hướng dẫn các thính giả đạt đến Niết bàn Vĩnh cửu, Đức Phật đã kết thúc bài giảng của mình. Khắp dãy núi Himalaya, các tiên nữ, rắn thần hùng mạnh và các chúng sinh khác đều vui mừng, trong khi các thiên thần đứng trên không trung bày tỏ sự tán thành kính cẩn. Toàn thể hội chúng đều tràn ngập sự kính phục trước vẻ đẹp và sức mạnh của giáo pháp.
Ānanda, vua của loài kền kền, Nārada vị Bà la môn cao quý, Puṇṇamukha chim cu hoàng gia, và nhiều đệ tử đi theo mỗi người họ sau đó đã rời đi, trở về cõi giới của mình. Đức Phật cũng trở về nơi cư ngụ của mình. Tuy nhiên, thỉnh thoảng, những người khác lại trở lại để nhận thêm lời dạy từ Ngài. Nhờ trung thành tuân theo lời khuyên của Ngài, họ được định sẵn sẽ tái sinh vào các cõi trời.
Khi Đức Phật kết thúc bài thuyết pháp, Ngài đã xác định các nhân vật trong truyện Jātaka, làm rõ mối liên hệ giữa các nhân vật trong quá khứ và hiện tại. Với lời giải thích này, ý nghĩa của truyện Jātaka đã được tiết lộ hoàn toàn.
Các vị tỳ kheo tham gia vào những sự kiện này đã đến nhờ thần thông của Đức Phật, nhưng khi rời đi, họ đã làm như vậy bằng khả năng đã được phát triển của chính mình. Trong khu rừng lớn, Đức Phật sau đó đã tiết lộ cho họ phương pháp để đạt được thiền định. Nhờ sự hướng dẫn này, họ đã đạt được quả vị A-la-hán ngay trong ngày hôm đó.
Vì một hội chúng lớn gồm các vị thần đã tụ tập vào dịp đó, Đức Phật đã tiếp tục tuyên bố kinh Mahāsamaya Sutta cho họ, trình bày một bài thuyết pháp vĩ đại trước cả chúng sinh loài người và thần linh.
.... o ....
J536. Kunala Jātaka -- Story about Kuṇāla, the King of the Cuckoos
Summary: After settling the war between the Sākiyas and the Koliyas, each group offers 250 young men for ordination. However, the young men soon become dissatisfied with their new lives and long for their former wives. To help calm their passions, the Buddha takes them to the Himalayas and tells many stories about the wickedness of women.
.
The Buddha was dwelling beside Lake Kunala, surrounded by five hundred Brethren who were struggling with discontent. He told them a story about the Sakiya and Koliya tribes, who lived in Kapilavatthu and Koliya, respectively. The two tribes shared a river, Rohini, which they used to irrigate their crops. One dry season, they quarreled over the water, and the dispute escalated into a violent confrontation.
The Buddha intervened, using his powers to appear in the air between the two armies. He asked them why they were fighting, and they explained it was over the water. He pointed out that the water was worthless compared to their lives and their noble heritage. To illustrate his point, he told them three stories from his past lives, highlighting the dangers of quarreling and the benefits of unity.
The tribes were moved by his words and offered him 250 princes each to join his order. The Buddha accepted and ordained them. However, the new monks soon became discontent, missing their wives and former lives. The Buddha, sensing their distress, decided to take them on a journey to the Himalayas.
Using his powers, he transported them to the majestic mountains, showing them its wonders: golden and crystal peaks, sparkling lakes, and exotic creatures. The Brethren's longing for their wives began to fade as they marveled at the beauty around them.
The Buddha then shared another story from his past, about a flock of birds that had once escorted him. As he spoke, a flock of cuckoos flew by, carrying their lord on a stick and casting a protective shadow around him. The Brethren asked about the birds, and the Buddha explained that it was an ancient custom, a tradition set up by him in a past life.
The Buddha's words and the breathtaking scenery worked their magic, and the Brethren's discontent began to lift. They listened intently as he continued to teach them, guiding them toward enlightenment.
Saccatapavi, a revered white nun, lived in a leaf hut in a cemetery near Benares. She was famous for her austerity, skipping four out of five meals. Her reputation was widespread, and locals would invoke her name for good fortune.
During a festival, a group of goldsmiths gathered at a drinking booth. One goldsmith, after vomiting, praised Saccatapavi, prompting a wise man to mock her virtue. The wise man wagered a thousand crowns that he could corrupt Saccatapavi, and the goldsmith accepted.
Disguising himself as an ascetic, the wise man befriended Saccatapavi, gradually gaining her trust. He manipulated her, pretending to share her spiritual aspirations, and eventually seduced her.
The wise man brought Saccatapavi to the drinking booth, where she got drunk and was handed over to the goldsmiths. The wise man won the wager, and Saccatapavi ended up with numerous offspring by the goldsmith.
Kunala, the bird-king, referenced this story to illustrate the dangers of temptation and the instability of women.
A prince was born to the king of Kosala's queen, but she feared the king of Benares would kill him. She gave the baby to a nurse, who left him in a charnel ground. A she-goat nursed the child, and a goat-herd found him. The goat-herd's goats started dying, so he put the baby in a vessel and dropped him in the river.
A low-caste mender found the baby and raised him. The boy grew up and worked in the palace, where he caught the eye of Princess Kurangavi. They fell in love and had a secret affair.
The king discovered their relationship and was furious. He planned to punish the boy, but the queen revealed the truth: the boy was her son, the prince of Kosala. The king had killed the prince's father and taken the queen as his consort.
The king was delighted to find the prince was nobly born. He gave him a bath, fine clothes, and his daughter's hand in marriage. The prince, now known as Elakamara, was sent to reclaim his father's kingdom.
The king of Benares sent Chalangakumara to teach Elakamara the arts. But Kurangavi soon misconducted herself with Chalangakumara, and then with another attendant, Dhanantevasi. The Great Being, Kunala, referenced this story to illustrate the dangers of wicked women.
A prince was born to the king of Kosala's queen, but she feared the king of Benares would kill him. She gave the baby to a nurse, who left him in a charnel ground. A she-goat nursed the child, and a goat-herd found him. The goat-herd's goats started dying, so he put the baby in a vessel and dropped him in the river.
A low-caste mender found the baby and raised him. The boy grew up and worked in the palace, where he caught the eye of Princess Kurangavi. They fell in love and had a secret affair.
The king discovered their relationship and was furious. He planned to punish the boy, but the queen revealed the truth: the boy was her son, the prince of Kosala. The king had killed the prince's father and taken the queen as his consort.
The king was delighted to find the prince was nobly born. He gave him a bath, fine clothes, and his daughter's hand in marriage. The prince, now known as Elakamara, was sent to reclaim his father's kingdom.
The king of Benares sent Chalangakumara to teach Elakamara the arts. But Kurangavi soon misconducted herself with Chalangakumara, and then with another attendant, Dhanantevasi. This story is told to illustrate the dangers of wicked women.
A king of Kosala took the kingdom of Benares and made the king's chief queen his consort. She was pregnant and later gave birth to a son. The king cherished the boy and had him educated. When the boy grew up, he was sent to reclaim his father's kingdom and ruled there.
The queen mother, wanting to see her son, traveled to Benares with a large escort. She stayed in a town between the two kingdoms, where she met a handsome brahmin youth named Pancalacanda. She fell in love with him and had an affair.
The queen's behavior was reckless, and she continued to see Pancalacanda on her travels. Kunala, the bird-king, referenced this story to illustrate the dangers of women's deceit and infidelity.
Kunala explained that women can be unfaithful due to various reasons, such as poverty, sickness, or neglect. He listed nine grounds on which a woman incurs blame, including frequenting parks and gardens, and being fond of strong drink.
Kunala also described forty ways a woman might seduce a man and twenty-five signs of a wicked woman, including praising her lord's absence and being intimate with neighbors.
The story highlights the importance of mindfulness and caution in relationships.
A poor man in Benares had a daughter, Pañcapāpā, who was considered ugly due to her five physical defects. The king of Benares, Baka, met her and was captivated by her touch. He made her his queen, despite her appearance.
The king's other wives were jealous and plotted against Pañcapāpā. They convinced the king that she was a threat to his life, and he had her put on a ship to drift down the river.
Pāvāriya, another king, found Pañcapāpā and made her his queen. Baka discovered her new status and went to war with Pāvāriya. The two kings eventually agreed to share Pañcapāpā, with her spending seven days with each of them.
However, Pañcapāpā was unfaithful, committing adultery with a pilot while on the river. Kunala, the bird-king, referenced this story to illustrate the dangers of women's deceit and infidelity.
Kunala also shared other stories, including one about a queen named Piṅgiyānī, who was unfaithful to her husband, Brahmadatta. These stories highlighted the importance of mindfulness and caution in relationships.
The vulture king, Ānanda, and the ascetic Nārada also spoke about the dangers of women's deceit, citing examples of their infidelity and manipulation.
After guiding his listeners to the attainment of the Eternal Great Nibbāna, the Great Being brought his teaching to a close. Throughout the Himālayas, elves, mighty serpents, and other beings rejoiced, while angels standing in the air expressed their reverent approval. The entire assembly was filled with awe at the beauty and power of the teaching.
Ānanda, the king of vultures, Nārada the noble brahmin, Puṇṇamukha the royal cuckoo, and the many followers who accompanied each of them then departed, returning to their own realms. The Great Being likewise withdrew to his own abode. From time to time, however, the others returned to receive further instruction from him. By faithfully following his admonitions, they became destined for rebirth in the heavenly worlds.
When the Teacher concluded his discourse, he identified the figures of the Jātaka, making clear the connections between the characters of the past and those of the present. With this explanation, the meaning of the Jātaka was fully revealed.
The monks who had taken part in these events had arrived through the supernatural power of the Teacher, but when they departed, they did so by their own developed abilities. In the Great Forest, the Teacher then revealed to them the method by which meditative absorption could be induced. Through this instruction, they attained Arahatship on that very day.
Because a vast assembly of devas had gathered on that occasion, the Fortunate One went on to proclaim to them the Mahāsamaya Sutta, setting forth a great exposition before beings both human and divine.
.... o ....
J527. Maha-Sutasoma Jātaka -- Câu chuyện về sự cải hóa của tên sát nhân Aṅgulimāla
Tóm tắt: Các nhà sư đang thảo luận về việc cải hóa tên sát nhân Aṅgulimāla. Đức Phật kể lại câu chuyện về một vị vua rơi vào thói ăn thịt người và sau đó bị trục xuất khỏi đất nước. Tuy nhiên, ông đã được cải hóa nhờ sự chân thành của một người bạn thời thơ ấu và cuối cùng giành lại được ngai vàng, sống theo những giới luật đạo đức.
.
Câu chuyện này kể về lời dạy của Đức Phật tại Jetavana liên quan đến Aṅgulimāla, chi tiết về quá khứ và sự chuyển hóa của ông từ một tên cướp khét tiếng thành một vị trưởng lão giác ngộ. Hành trình của Aṅgulimāla bắt đầu từ cuộc đời trước đây của ông, một người tàn bạo, đầy bạo lực và đổ máu, cho đến khi gặp Đức Phật, người đã dùng lòng từ bi và trí tuệ của mình để cảm hóa ông một cách hòa bình, thể hiện tiềm năng kỳ diệu của giáo lý Phật giáo.
Đức Phật kể về một kiếp trước, khi Ngài sinh ra là Sutasoma, con trai của vua Koravya, người trị vì Indapatta. Sutasoma, ham học hỏi, đã đến Taxila để học cùng với hoàng tử Brahmadatta của Benares. Tình bạn của họ nảy nở trong suốt thời gian học tập, dẫn đến việc Sutasoma trở thành gia sư riêng cho Brahmadatta, truyền đạt những bài học đạo đức sâu sắc. Sau khi hoàn thành việc học, họ trở về quê hương và tuân theo lời khuyên của Sutasoma, đặc biệt là giữ gìn giới luật đạo đức, chẳng hạn như không sát sinh.
Câu chuyện chuyển sang một hướng đen tối hơn với vị vua Benares, người trở nên say mê hương vị thịt người do một kiếp trước. Khi nhu cầu về thịt người trở nên cấp thiết, một người đầu bếp, vì không tìm được thịt để cung cấp cho nhà vua, đã phải đào mộ, gây ra sự hoảng loạn lan rộng khi các thi thể bắt đầu xuất hiện. Giữa sự hỗn loạn, người dân yêu cầu công lý đối với những tội ác do nhà vua dàn dựng.
Kāḷahatthi, tổng tư lệnh, điều tra vụ việc, bắt giữ người đầu bếp, người đã thú nhận những hành động khủng khiếp của mình theo lệnh của nhà vua. Nhà vua thừa nhận sự đồng lõa của mình, nhưng bất chấp lời kêu gọi của tổng tư lệnh yêu cầu ông chấm dứt việc ăn thịt người, nhà vua vẫn kiên quyết. Căng thẳng leo thang khi tổng tư lệnh, quyết tâm mang lại sự cải cách, cố gắng làm cho nhà vua hiểu hậu quả hành động của mình thông qua một câu chuyện đạo đức.
Trong câu chuyện "Con cá Ānanda", có sáu con cá khổng lồ sống dưới đại dương, trong đó có Ānanda, người được các con cá khác nhất trí bầu làm vua. Ban đầu, Ānanda hài lòng với việc ăn rong biển, nhưng một ngày nọ, nó vô tình ăn thịt một con cá và phát hiện ra hương vị tuyệt vời của nó. Phát hiện này đã khơi dậy lòng tham lam thèm khát cá, và để duy trì địa vị vương giả của mình, Ānanda quyết định lén lút ăn thịt một số thần dân của mình trong khi chúng đang tỏ lòng kính trọng, dẫn đến số lượng cá giảm dần.
Một con cá khôn ngoan trong số những người theo vua đã nghi ngờ và ẩn mình trong tai của Ānanda để quan sát hành động của nó. Sau khi chứng kiến Ānanda ăn thịt đồng loại, nó đã báo động cho những con cá khác, khiến chúng hoảng sợ và bỏ chạy. Khi Ānanda ngày càng bị ám ảnh bởi việc săn cá, nó trở nên ốm yếu vì đói và nhầm tưởng rằng chúng đang trốn gần một ngọn núi. Trong cơn tìm kiếm điên cuồng, nó vòng quanh ngọn núi và, tin rằng mình đã tìm thấy một con cá khác, nó cắn vào đuôi của chính mình, dẫn đến nỗi đau đớn tột cùng.
Chiếc đuôi khổng lồ của nó cuối cùng bị những con cá khác ăn thịt, dẫn đến cái chết của nó. Câu chuyện kết thúc bằng một bài học đạo đức được truyền đạt bởi một vị hiền triết tên là Kāḷahatthi, cảnh báo về việc không nên khuất phục trước lòng tham lam và những hậu quả nguy hiểm của sự thèm khát không đáy, được minh họa bằng số phận của Ānanda. Câu chuyện cảnh báo này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tiết chế và sự hủy hoại tiềm tàng mà những ham muốn không được kiểm soát có thể mang lại, cả cho bản thân và cộng đồng.
Câu chuyện xoay quanh Sujāta, một chủ đất ở Benares, người đã tiếp đãi năm trăm vị tu sĩ đến từ dãy Himalaya. Ông cung cấp thức ăn cho họ, nhưng các vị tu sĩ thỉnh thoảng vẫn đi khất thực. Trong một lần các vị tu sĩ vắng mặt, con trai của Sujāta thèm những quả mận Jambu lớn mà các vị tu sĩ mang đến. Khi thấy các vị tu sĩ thưởng thức loại trái cây đó, cậu bé bị mê hoặc bởi hương vị của nó và liên tục đòi ăn thêm. Mặc dù Sujāta đã cố gắng an ủi con bằng những lời hứa sẽ cho con ăn trái cây khi họ trở về nhà, cậu bé vẫn tiếp tục khóc đòi ăn mận.
Khi các vị tu sĩ tiếp tục cuộc hành trình, họ không tìm thấy cậu bé trong công viên và sau đó đã gửi cho cậu một hỗn hợp các loại trái cây khác nhau. Thật không may, hỗn hợp này có độc, khiến cậu bé bị ốm. Cậu bé không ăn uống gì trong một tuần và cuối cùng đã qua đời. Nhà vua đã kể lại câu chuyện đau lòng này để minh họa chiều sâu của lòng ham muốn con người và việc không thể đạt được thứ mình khao khát có thể dẫn đến những hậu quả bi thảm như thế nào. Câu chuyện là một lời bình luận sâu sắc về lòng tham và sự khao khát, phản ánh chủ đề về sự ràng buộc và những rủi ro liên quan đến sự phụ thuộc vào những thứ có thể gây hại cho chúng ta.
.
Trong câu chuyện "Con trai của một Bà La Môn", một cậu bé thông minh, con trai duy nhất của một gia đình Bà La Môn ở Benares, bị bạn bè dụ dỗ, những người thường xuyên uống rượu và ăn thịt, trái ngược với sự tuân thủ Ngũ Giới của cậu. Mặc dù được giáo dục đạo đức tốt, bạn bè của cậu vẫn bày mưu lừa cậu uống rượu bằng cách nói dối rằng đó là mật hoa sen, cuối cùng khiến cậu lần đầu tiên nếm thử rượu và thịt.
Khi phát hiện ra lỗi lầm của con trai, người Bà La Môn khiển trách cậu, lo sợ sự mất mát các giá trị gia đình và tài sản. Cậu bé, say rượu và say mê hương vị của rượu mạnh, bất chấp lời khuyên của cha, khẳng định rằng cậu không thể từ bỏ niềm vui mới này. Người Bà La Môn, đau khổ trước sự phản kháng của con trai, cảnh báo rằng cậu sẽ bị tước quyền thừa kế và bị trục xuất nếu không từ bỏ việc uống rượu. Tuy nhiên, cậu con trai từ chối tuân theo, bày tỏ sự sẵn sàng ra đi.
Trong một kết cục đau lòng, người Bà La Môn tước quyền thừa kế của con trai, buộc cậu phải lang thang không nhà cửa, cuối cùng dẫn đến cái chết cô độc và nghèo khổ. Câu chuyện này là một bài học cảnh báo được Kāḷahatthi kể cho một vị vua, minh họa những hậu quả nghiêm trọng của việc bỏ qua lời khuyên khôn ngoan và khuất phục trước cám dỗ, giống như sự sa ngã của chàng trai Bà La Môn trẻ tuổi. Bài học đạo đức nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các nguyên tắc của bản thân, nếu không sẽ phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng tương tự như những gì mà chàng trai trẻ lạc lối đã phải chịu đựng.
.
Câu chuyện này kể về Sujāta, một chủ đất, người bị mê hoặc bởi các vị thần sau khi chứng kiến sự xuất hiện của Sakka, vua trời, và các tùy tùng thần thánh của ông tại một cuộc họp của các đạo sĩ. Mặc dù được các đạo sĩ khuyên bảo, khao khát mãnh liệt của Sujāta đối với một Devaccharā – những nữ thần hầu cận – khiến ông bỏ bê những nhu cầu cơ bản của bản thân, dẫn đến cái chết cuối cùng của ông. Sự đối lập giữa tình yêu trần tục của ông dành cho các vị thần được minh họa bằng phép ẩn dụ, làm nổi bật sự vô ích của nỗi ám ảnh đó. Trong khoảnh khắc khao khát và đam mê, ông bỏ bê thức ăn và sự sống, cho thấy sự ám ảnh đã làm ông mù quáng trước thực tế và cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của ông. Tiếng kêu gọi một Devaccharā của ông trở nên điên cuồng, gây ra sự nhầm lẫn trong gia đình, những người hiểu sai mong muốn của ông. Khi ông tiếp tục từ chối những người phụ nữ trần tục được đưa đến cho mình, tin rằng không ai có thể sánh được với vẻ đẹp thần thánh mà ông khao khát, ông đã chết vì đói, minh họa một bài học đạo đức sâu sắc về sự nguy hiểm của những ham muốn ám ảnh và việc ưu tiên những lý tưởng không thể đạt được hơn là sức khỏe của bản thân.
.
Câu chuyện về "Những con ngỗng vàng" truyền tải một bài học cảnh báo xoay quanh chủ đề tham lam và hậu quả của sự phản bội trong cộng đồng. Câu chuyện bắt đầu khi một nhân vật tên là Kāḷahatthi suy nghĩ về cách để thay đổi hành vi tham lam của một vị vua. Để minh họa cho thông điệp của mình, ông kể lại số phận bi thảm của đàn ngỗng Dhataraṭṭha từng sinh sống thịnh vượng trong hang Vàng trên núi Cittakūṭa.
Trong bốn tháng mùa mưa, những con ngỗng này trú ẩn trong hang, không thể bay được vì cánh bị ướt. Để chuẩn bị cho sự sống sót, chúng thu thập lúa hoang từ một hồ nước gần đó và tích trữ trong hang. Tuy nhiên, thời kỳ sung túc này bị gián đoạn bởi sự xuất hiện của một con nhện khổng lồ giăng tơ ở lối vào hang mỗi tháng. Đàn ngỗng nghĩ ra một chiến lược để bảo vệ một con ngỗng non bằng cách cho nó ăn thêm thức ăn, cho phép nó phá vỡ mạng nhện.
Khi mùa mưa kéo dài đến năm tháng, thức ăn trở nên khan hiếm, và đàn ngỗng phải ăn thịt đồng loại, bắt đầu từ trứng, rồi đến ngỗng con, và cuối cùng là những con ngỗng già. Sự suy đồi đạo đức này dẫn đến sự diệt vong của cả đàn. Khi mưa cuối cùng cũng ngừng, và con ngỗng non cố gắng phá vỡ mạng nhện cuối cùng, nó bị mắc kẹt và cuối cùng bị con nhện chặt đầu, sau đó con nhện tiếp tục bắt và hút máu những con ngỗng còn lại từng con một. Câu chuyện kết thúc với sự tuyệt chủng của đàn ngỗng Dhataraṭṭha, nhấn mạnh bài học rằng sự tham lam và phản bội cộng đồng có thể dẫn đến những hậu quả thảm khốc.
.
Câu chuyện kế tiếp kể về một vị vua bị thần dân phản đối vì một tên sát nhân ăn thịt người mà ông ta không muốn trục xuất. Thần dân yêu cầu nhà vua phải hành động, khiến vị chỉ huy phải cầu xin nhà vua từ bỏ thói quen ăn thịt người, nhưng nhà vua kiên quyết từ chối. Kết quả là ông ta bị lưu đày, chỉ mang theo một thanh kiếm và một người đầu bếp. Họ rút lui vào rừng, nơi nhà vua tiếp tục những hành động tàn bạo của mình, giết chết những người lữ hành và bắt người đầu bếp chế biến thịt của họ để ăn. Cuối cùng, đến một ngày nhà vua không tìm thấy nạn nhân nào, và lo sợ cho tính mạng của mình, người đầu bếp dự đoán trước cái chết của chính mình. Trong một bước ngoặt bi thảm, nhà vua giết chết người đầu bếp, để lại mình ông ta đơn độc giữa rừng sâu, với tiếng xấu là kẻ ăn thịt người lan truyền khắp vùng đất Jambudīpa.
.
Câu chuyện "Người dẫn đoàn lữ hành" kể về trải nghiệm của một vị Bà La Môn giàu có khi đi qua một khu rừng nổi tiếng nguy hiểm vì có một tên cướp ăn thịt người. Để đảm bảo an toàn, vị Bà La Môn đã trả một khoản tiền lớn cho người dân địa phương để thuê một đoàn hộ tống. Khi ông ta đang di chuyển trên một cỗ xe lộng lẫy, tên cướp, ẩn mình trên một cái cây, đã nhận ra vị Bà La Môn là mục tiêu của mình. Hắn tấn công, áp đảo đoàn hộ tống của vị Bà La Môn và bắt giữ ông ta. Tuy nhiên, khi tên cướp bỏ chạy, hắn bị đoàn hộ tống của vị Bà La Môn truy đuổi.
Trong một khoảnh khắc không may mắn khi đang bỏ trốn, tên cướp giẫm phải một mảnh gỗ nhọn, bị thương. Tên cướp bị thương thả vị Bà La Môn xuống để bỏ chạy, để lại đoàn lữ hành tập hợp lại. Sau khi bị thương, tên cướp cầu nguyện với linh hồn của một cây đa, hứa sẽ dâng lễ vật nếu được chữa lành. Vết thương của hắn cuối cùng cũng lành lại, và cảm thấy mang ơn, hắn quyết định thực hiện lời hứa bằng cách bắt các hoàng tử để hiến tế.
Một người Yakkha khác, nhận ra tên cướp từ kiếp trước, biết được ý định của hắn và đề nghị giúp đỡ bằng một phép thuật mạnh mẽ ban cho sức mạnh và tốc độ. Với những khả năng mới có được, tên cướp bắt đầu đi bắt một trăm lẻ một vị vua. Sử dụng tốc độ của mình, hắn đã phục kích thành công họ, khủng bố họ trong quá trình đó, và cuối cùng treo họ lên cây đa của mình, treo lủng lẳng từ những lỗ khoan trên lòng bàn tay của họ.
.
Sutasoma, một nhân vật cao quý được kính trọng như một vị thầy dạy riêng, đang suy nghĩ về việc dâng lễ cho một cái cây. Thần cây, chứng kiến ý định của ông, lo sợ ông sẽ thực hiện một lễ tế có thể dẫn đến một cuộc tàn sát lớn. Để ngăn chặn điều này, bà tham khảo ý kiến của Tứ Đại Thiên Vương, nhưng họ thừa nhận không thể can thiệp. Sau đó, Thần cây tìm đến Sakka, người đề nghị rằng Sutasoma, hoàng tử của Kuru ở Indapatta, có khả năng chế ngự kẻ ăn thịt người và cứu mạng các vị vua của Jambudīpa.
Hóa trang thành một đạo sĩ, Thần cây tìm đến kẻ ăn thịt người, kẻ nhầm bà là một vị vua bị bắt giữ, đuổi theo bà bằng một thanh kiếm, nhưng không thể bắt được bà dù đã chạy hết sức. Khả năng né tránh của đạo sĩ khiến hắn tự hỏi tại sao mình, người từng có thể bắt được những con vật nhanh nhẹn, lại không thể làm được điều tương tự với bà. Những nỗ lực của đạo sĩ để gọi bà một cách hòa bình đều bị đáp lại bằng sự hài hước; bà lập luận rằng hắn phải đứng yên và tham gia vào cuộc rượt đuổi. Cuối cùng, bà tiết lộ hình dạng thần thánh của mình, khiến kẻ ăn thịt người kinh ngạc, nhận ra bà là Thần cây.
Đối mặt với sự hiện diện của bà, kẻ ăn thịt người trấn an bà, nói rằng bà không cần phải lo lắng về Sutasoma và đề nghị bà trở về cây của mình. Khi mặt trời lặn và mặt trăng lên, hắn lên kế hoạch phục kích Sutasoma trong chòm sao Phussa, biết rằng hoàng tử sẽ đến công viên để tắm giữa sự bảo vệ nghiêm ngặt. Kẻ ăn thịt người quyết định ẩn mình trong một cái ao hoàng gia trong công viên Migācira, sử dụng lá sen để ngụy trang.
Vinh quang hiển hách của hắn, khiến các sinh vật dưới nước phải rút lui, bắt nguồn từ những hành động đức hạnh trong kiếp trước, cụ thể là việc phân phát sữa và giúp đỡ một nhà sư trong thời tiết lạnh bằng cách cung cấp củi và dụng cụ. Sáng sớm ngày phục kích theo kế hoạch, Sutasoma, sau bữa sáng thịnh soạn, cưỡi một con voi được trang trí lộng lẫy, cùng với một đội cận vệ hùng mạnh, và rời thành phố đến khu vườn, tạo nên bối cảnh cho một cuộc chạm trán đầy ý nghĩa.
.
Vua Sutasoma, một vị vua công minh và khôn ngoan, bị một tên cướp ăn thịt người bắt giữ khi đang tắm trong một hồ sen. Tên cướp, định ăn thịt ông, đã ngạc nhiên trước thái độ bình tĩnh của Sutasoma. Sutasoma giải thích rằng ông đã hứa với một vị Bà La Môn và muốn giữ lời hứa của mình.
Tên ăn thịt người, bị ấn tượng bởi sự chính trực của Sutasoma, đề nghị thả ông nếu ông quay lại sau khi nghe bốn câu thơ trị giá một trăm đồng tiền mỗi câu. Sutasoma đồng ý và được thả đi.
Sutasoma trở về thành phố của mình, nơi các binh lính kinh ngạc trước việc ông thoát hiểm. Ông kể cho họ nghe về lòng nhân từ bất ngờ của tên ăn thịt người và quyết định quay lại gặp hắn, giữ lời hứa của mình.
Câu chuyện làm nổi bật sự giữ lời hứa của Sutasoma và khả năng thay đổi đáng ngạc nhiên của tên ăn thịt người.
.
Vua Sutasoma, một vị vua công bằng và khôn ngoan, được một tên cướp ăn thịt người thả tự do sau khi hứa sẽ quay lại. Sutasoma đã hứa sẽ nghe bốn câu thơ, mỗi câu trị giá một trăm đồng tiền. Ông trở về thành phố của mình, nơi ông được người dân chào đón.
Sutasoma đã trọng thưởng cho vị đạo sĩ đã dạy ông những câu thơ, tặng ông ta bốn nghìn đồng tiền. Cha mẹ ông rất buồn, cảm thấy ông đã trả quá nhiều. Sutasoma giải thích rằng ông coi trọng kiến thức và sự chính trực hơn là của cải.
Mặc dù cha mẹ khẩn cầu, Sutasoma vẫn chọn quay trở lại gặp tên ăn thịt người, giữ lời hứa của mình. Ông an ủi cha mẹ, nói rằng ông đã làm một việc thiện và sẽ vượt qua nỗi sợ hãi của mình. Với trái tim nặng trĩu, ông tạm biệt và trở lại gặp tên cướp.
.
Vua Sutasoma, giữ đúng lời hứa, đã quay trở lại gặp tên cướp ăn thịt người. Tên cướp rất vui mừng và hỏi Sutasoma liệu ông đã hoàn thành điều mình muốn chưa. Sutasoma giải thích rằng ông đã nghe được bốn câu kệ và đã bày tỏ lòng kính trọng đối với vị thầy Bà la môn.
Tên ăn thịt người tò mò và muốn nghe những câu kệ đó, hy vọng sẽ thoát khỏi nỗi sợ hãi. Sutasoma khiển trách hắn, nói rằng một kẻ độc ác như hắn không thể hiểu được Phật pháp.
Tên ăn thịt người cố gắng biện minh cho hành động của mình, nhưng Sutasoma phản bác, nêu ra sự khác biệt giữa ăn thịt động vật và ăn thịt người. Tên ăn thịt người ấn tượng trước trí tuệ của Sutasoma và bắt đầu coi ông là một vị vua đức hạnh.
Sutasoma giải thích rằng ông đã quay trở lại vì sự cam kết giữ lời hứa và niềm tin vào Phật pháp. Tên ăn thịt người, cảm động trước lời nói của Sutasoma, nhận ra rằng ăn thịt ông sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng.
Tên ăn thịt người quyết định không ăn thịt Sutasoma, thừa nhận đức hạnh phi thường của ông. Hắn yêu cầu Sutasoma dạy cho hắn những câu kệ, và Sutasoma đồng ý. Khi Sutasoma đọc những câu kệ, các vị thần vỗ tay tán thưởng, và tên ăn thịt người cảm thấy một niềm vui và sự kính trọng dâng trào.
Trái tim của tên ăn thịt người đã được chuyển hóa, và hắn nhìn Sutasoma như một người cha, sẵn sàng trao cho ông món quà vương quyền.
.
Sutasoma, dù thiếu thốn vật chất, đã ban tặng những ân huệ thay thế và thử thách sự chân thành của vị vua ăn thịt người, người đã hứa sẽ ban cho ông những điều ước. Sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng, Sutasoma chấp nhận lời đề nghị và chọn những điều ước của mình một cách khéo léo và đầy lòng từ bi. Đầu tiên, ông cầu chúc cho vị vua ăn thịt người được sống lâu, điều này đã làm mềm lòng vị vua đó. Thứ hai, ông bảo vệ mạng sống của hơn một trăm vị vua bị giam cầm bằng cách cấm giết hại họ. Thứ ba, ông đảm bảo việc họ được trở về vương quốc của mình một cách an toàn, vì ông đã lường trước những nguy hiểm mà họ sẽ phải đối mặt nếu không được như vậy.
Đối với điều ước thứ tư, Sutasoma yêu cầu vị vua ăn thịt người từ bỏ việc ăn thịt người. Sau cuộc đấu tranh nội tâm sâu sắc, nỗi sợ hãi và sự suy ngẫm về đạo đức được khơi dậy bởi lý lẽ kiên định và tấm gương của Sutasoma, vị vua ăn thịt người cuối cùng đã đồng ý, chấp nhận luật đạo đức và Năm giới luật. Như vậy, ông đã được thiết lập trong Chánh pháp.
Các vị vua bị giam cầm sau đó được thả ra một cách cẩn thận và được chăm sóc sức khỏe dưới sự chăm sóc đầy lòng từ bi của Sutasoma, vết thương của họ được chữa lành và sức mạnh được phục hồi. Các vị thần vui mừng trước sự chuyển đổi này, tuyên bố đó là một phép lạ vĩ đại của sự chuyển hóa đạo đức. Sau khi hồi phục, các vị vua được trở về vương quốc của mình một cách an toàn.
Sutasoma sau đó hướng dẫn vị vua đã cải tà quy chính trở về Benares, nơi, sau nỗi sợ hãi ban đầu của người dân, ông được công khai phục vị. Sutasoma hướng dẫn ông cai trị theo lẽ phải, lòng rộng lượng và các đức tính của một vị vua. Sau khi đảm bảo sự ổn định và thiện chí trên khắp đất nước, Sutasoma trở về vương quốc Indapatta của mình, cai trị một cách công bằng và tôn vinh những người đã giúp đỡ ông, bao gồm cả Thần Cây, xung quanh đền thờ của vị thần này đã mọc lên một thị trấn lớn.
Tất cả các vị vua đều tuân theo lời dạy của Sutasoma, thực hành những việc thiện và được định sẵn sẽ lên thiên đàng. Đức Phật kết luận bằng cách xác định câu chuyện Jātaka này, tuyên bố rằng Sutasoma chính là Ngài trong một kiếp trước, và vị vua ăn thịt người chính là Aṅgulimāla, một lần nữa được chuyển hóa nhờ lòng từ bi và chân lý.
.... o ....
J527. Maha-Sutasoma Jātaka -- Story of the Conversion of the Murderer Aṅgulimāla
Summary: The monks are discussing the conversion of the murderer Aṅgulimāla. The Buddha recounts the story of a king who fell into cannibalism and was subsequently exiled from his country. However, he was transformed by the honesty of a childhood friend and eventually regained his throne, living in accordance with moral precepts.
.
This narrative relates to the Buddha's teachings at Jetavana concerning Aṅgulimāla, detailing his backstory and transformation from a notorious robber to an enlightened elder. Aṅgulimāla's journey begins with his earlier life as a cruel individual, marked by violence and bloodshed, until encountering the Buddha, who, through his compassion and wisdom, converted him peacefully, showcasing the miraculous potential of Buddhist teachings.
The Buddha relates a previous existence where he was born as Sutasoma, the son of King Koravya, who ruled Indapatta. Sutasoma, enthusiastic about learning, went to Taxila to be educated alongside Prince Brahmadatta of Benares. Their friendship blossomed during their studies, leading Sutasoma to become a private tutor for Brahmadatta, imparting profound moral lessons. Upon completing their education, they returned home and adhered to Sutasoma's guidance, notably to uphold moral precepts, such as abstaining from taking life.
The tale takes a dark turn with the Benares king, who became enamored with the taste of human flesh due to a prior existence. With a demand for human meat becoming critical, a cook, losing his way to provide the king with meat, resorted to grave robbing, creating widespread panic as bodies began to appear. Amidst chaos, the people demanded justice against the king's orchestrated crimes.
Kāḷahatthi, the commander-in-chief, investigates the situation, capturing the cook who confessed his ghastly deeds under the king's orders. The king admits to his complicity, but despite the commander’s appeals for him to cease his cannibalism, the king remains adamant. The tension escalates as the commander, determined to bring about reform, attempts to make the king understand the consequences of his actions through a moral story.
In the tale "The Fish Ānanda," there were six enormous fish in the ocean, including Ānanda, who became their king as the other fish unanimously chose him for this role. Ānanda, initially content with feeding on rock eelgrass, one day mistakenly consumed a fish, discovering its delightful taste. This revelation sparked a greedy desire for fish, and to maintain his royal stature, Ānanda decided to discreetly eat some of his subjects while they paid him homage, which led to a dwindling fish population.
A wise fish among the king's followers grew suspicious and concealed itself in Ānanda's ear to observe his activities. Upon witnessing Ānanda's predation, it alerted the other fish, who panicked and fled. As Ānanda became increasingly obsessed with hunting fish, he grew sick with hunger and mistakenly thought they were hiding near a mountain. In his frantic search, he encircled the mountain and, believing he had found another fish, bit down on his own tail, leading to excruciating pain.
His tail, massive in size, was ultimately devoured by his fellow fish, resulting in his demise. The story concludes with a moral lesson delivered by a sage named Kāḷahatthi, warning against succumbing to greed and the perilous consequences of such insatiable appetite, exemplified by Ānanda's fate. This cautionary tale underscores the importance of moderation and the potential ruin that unchecked desires can bring, both to oneself and to one's community.
The narrative centers around Sujāta, a landowner in Benares, who hosted five hundred ascetics visiting from the Himālayas. He provided food for them, but the ascetics occasionally journeyed for alms. During one such absence, Sujāta's son craved the large Jambu plums the ascetics had brought. Upon seeing the ascetics enjoying the fruit, the boy was enchanted by its flavor and repeatedly requested more. Despite Sujāta's efforts to comfort him with promises of fruit upon their return home, the boy continued to cry out for the plums.
When the ascetics resumed their journey, they did not find the boy in the park and subsequently sent him a mixture of various fruits. Unfortunately, this mixture was poisonous, causing the boy to fall ill. He refrained from eating for a week and ultimately succumbed to his condition. The king references this heart-wrenching tale to illustrate the depths of human desire and how the inability to attain a cherished object can lead to tragic consequences. It serves as a poignant commentary on greed and longing, echoing themes of attachment and the risks involved in dependency on that which can harm us.
.
In the narrative "The Son of a Brahmin," a wise young boy, the only son of a Brahmin family in Benares, is led astray by his peers, who indulge in drinking and eating meat, contrasting his adherence to the Five Precepts. Despite his moral upbringing, his friends devise a scheme to intoxicate him by tricking him into thinking he's drinking lotus nectar, ultimately leading him to consume alcohol and meat for the first time.
Upon discovering his son's wrongdoing, the Brahmin admonishes him, fearing the loss of their family values and wealth. The boy, intoxicated and enamored by the taste of strong drink, defies his father's wishes, asserting that he cannot give up this newfound pleasure. The Brahmin, distressed by his son's rebellion, warns him he will be disinherited and banished if he does not renounce drinking. However, the son refuses to comply, expressing his willingness to leave.
In a heartbreaking conclusion, the Brahmin disinherits his son, forcing him to wander destitute, eventually leading to his death, alone and poverty-stricken. The story serves as a cautionary tale conveyed by Kāḷahatthi to a king, illustrating the dire consequences of ignoring wise counsel and succumbing to temptations, akin to the young Brahmin's downfall. The moral emphasizes the importance of adherence to one's principles, lest one faces dire repercussions similar to those suffered by the wayward youth.
.
This narrative recounts the story of Sujāta, a landowner, who becomes infatuated with heavenly beings after witnessing the arrival of Sakka, the king of heaven, and his celestial companions at a gathering of ascetics. Despite being advised by the ascetics, Sujāta's overwhelming desire for a Devaccharā— celestial handmaidens— leads him to disregard his basic needs, resulting in his eventual demise. The juxtaposition of his human love for divine beings is illustrated through metaphor, highlighting the futility of his obsession. In a moment of yearning and passion, he neglects food and sustenance, demonstrating how his fixation blinds him to reality and ultimately brings about his downfall. His cries for a Devaccharā become frantic, leading to confusion among his kin, who misinterpret his desires. As he continues to reject the earthly women brought to him, believing none could match the heavenly beauty he yearns for, he succumbs to starvation, illustrating a poignant moral about the dangers of obsessive desires and the prioritization of unattainable ideals over one's own well-being.
.
The story of "The Golden Geese" relays a cautionary tale centered around the themes of gluttony and the consequences of betrayal within a community. The narrative begins when a character named Kāḷahatthi contemplates how to redirect a gluttonous king's actions. To illustrate his message, he recounts the tragic fate of the Dhataraṭṭha geese who once thrived in the Golden Cave on mount Cittakūṭa.
For four months during the rainy season, these geese remain sheltered, unable to fly due to their waterlogged wings. In preparation for their survival, they gather wild paddy from a nearby lake and stockpile it within their cave. However, this period of abundance is interrupted by the arrival of a gigantic spider that spins webs at the cave's entrance each month. The geese devise a strategy to protect a young goose by providing it with extra food, allowing it to break through the spider's webs.
As the rainy season stretches to five months, food becomes scarce, and the geese resort to consuming their own kin, starting with the eggs, then the goslings, and ultimately the old geese. This decline in morality leads to the downfall of the flock. When the rains finally cease, and the young goose attempts to break the final web, it becomes ensnared and ultimately decapitated by the spider, which then goes on to capture and drain the remaining geese one by one. The tale concludes with the extinction of the Dhataraṭṭha geese, underscoring the moral that succumbing to gluttony and betraying community ties can result in dire consequences.
.
The narrative follows a king confronted by his citizens over a man-eating rogue whom he is reluctant to expel. The citizens demand action, prompting the commander to plead with the king to renounce his appetite for human flesh, but the king adamantly refuses. As a consequence, he is exiled, taking with him only a sword and a cook. They retreat to a forest where the king continues his gruesome acts, killing travelers and having the cook prepare their flesh for consumption. Eventually, a day comes when the king finds no victims, and fearing for his life, the cook anticipates his own demise. In a tragic turn of events, the king kills the cook, leaving him alone to fend for himself in isolation, with the alarming reputation of being a man-eater spreading across the land of Jambudīpa.
.
The story "The Caravan Leader" narrates the experiences of a wealthy brahmin who travels through a forest known to be dangerous due to a man-eating robber. To ensure his safe passage, the brahmin pays a hefty sum to local people for a convoy. As he travels in an ornate carriage, the robber, perched in a tree, identifies the brahmin as his target. He launches an attack, overpowering the brahmin's escort and capturing him. However, as the robber flees, he is pursued by the brahmin's convoy.
In a moment of misfortune during his escape, the robber steps on a sharp splinter, injuring himself. The wounded robber drops the brahmin to flee, leaving the caravan to regroup. Following his injury, the robber prays to the spirit of a banyan tree, pledging to make sacrifices if he recovers. His wound eventually heals, and, feeling indebted, he decides to fulfill his vow by capturing princes for sacrifice.
A fellow Yakkha, recognizing the robber from a previous existence, learns of his intent and offers assistance in the form of a powerful spell that grants strength and speed. Embracing his newfound abilities, the robber sets out to capture one hundred and one kings. Employing his swiftness, he successfully ambushes them, terrorizing them in the process, and ultimately suspends them on his banyan tree, dangling from holes drilled in their palms.
.
Sutasoma, a noble figure cherished as a private teacher, contemplates making an offering to a tree. The Tree Devatā, witnessing his intentions, fears he will conduct a sacrifice that could lead to a significant slaughter. To prevent this, she consults the Four Great Kings, who admit their inability to intervene. Subsequently, the Tree Devatā approaches Sakka, who suggests that Sutasoma, the prince of Kuru in Indapatta, possesses the ability to tame the man-eater and save the lives of the kings of Jambudīpa.
Disguised as an ascetic, the Tree Devatā seeks out the man-eater, who, mistaking her for a captured king, pursues her with a sword, but finds himself unable to catch her despite running vigorously. The ascetic's ability to evade capture leads him to question why he, once capable of catching swift animals, cannot do the same with her. The ascetic's attempts to summon her peaceably are met with humor; she argues that he must instead stand still and partake in the chase. Eventually, she reveals her celestial form, astonishing the man-eater, who recognizes her as the Tree Devatā.
Faced with her presence, the man-eater reassures her, stating she need not worry about Sutasoma and suggests she return to her tree. As the sun sets and the moon rises, he plans to ambush Sutasoma during the Phussa asterism, knowing that the prince will visit the park for bathing amidst guarded safety measures. The man-eater resolves to hide in a royal tank in the Migācira park, utilizing a lotus leaf as a disguise to conceal himself.
His apparent glory, which causes the aquatic creatures to retreat, stems from virtuous actions in his past life, specifically initiating a milk distribution and aiding in a monk's comfort during cold weather by providing firewood and tools. Early on the day of his planned ambush, Sutasoma, after a hearty breakfast, mounts a richly adorned elephant, accompanied by a strong military guard, and proceeds to leave the city toward the garden, setting the stage for a consequential encounter.
.
King Sutasoma, a just and wise ruler, was seized by a man-eating robber while bathing in a lotus tank. The robber, intent on devouring him, was surprised by Sutasoma's calm demeanor. Sutasoma explained that he had given his word to a brahmin and wanted to keep his promise.
The man-eater, intrigued by Sutasoma's integrity, offered to release him if he returned after hearing four verses worth a hundred pieces of money each. Sutasoma agreed and was let go.
Sutasoma returned to his city, where his soldiers were amazed by his escape. He told them about the man-eater's unexpected mercy and decided to return to him, keeping his promise.
The story highlights Sutasoma's commitment to his word and the man-eater's surprising capacity for change.
.
King Sutasoma, a just and wise ruler, was released by a man-eating robber after promising to return. Sutasoma had given his word to hear four verses worth a hundred pieces of money each. He returned to his city, where he was welcomed by his people.
Sutasoma honored the brahmin who taught him the verses, giving him four thousand pieces of money. His parents were upset, feeling he had overpaid. Sutasoma explained that he valued knowledge and integrity over wealth.
Despite his parents' pleas, Sutasoma chose to return to the man-eater, keeping his promise. He comforted his parents, saying he had done a virtuous deed and would overcome his fears. With a heavy heart, he bid farewell and returned to the robber.
.
King Sutasoma, true to his word, returned to the man-eating robber. The robber was pleased and asked if Sutasoma had accomplished what he wanted. Sutasoma explained that he had heard the four verses and paid homage to the brahmin teacher.
The man-eater was intrigued and wanted to hear the verses, hoping to gain freedom from fear. Sutasoma rebuked him, saying that a wicked person like him couldn't understand the Dhamma.
The man-eater tried to justify his actions, but Sutasoma countered, citing the difference between eating animals and eating humans. The man-eater was impressed by Sutasoma's wisdom and began to see him as a virtuous king.
Sutasoma explained that he had returned due to his commitment to keeping his word and his faith in the Dhamma. The man-eater, moved by Sutasoma's words, realized that eating him would bring severe consequences.
The man-eater decided not to eat Sutasoma, acknowledging his exceptional virtue. He asked Sutasoma to teach him the verses, and Sutasoma agreed. As Sutasoma recited the verses, the gods applauded, and the man-eater felt a surge of joy and reverence.
The man-eater's heart was transformed, and he looked upon Sutasoma as a father figure, ready to confer upon him the gift of royalty.
.
Sutasoma, lacking material gifts, offered boons instead and tested the sincerity of the man-eating king who had promised to grant them. After careful reflection, Sutasoma accepted the offer and chose his boons with skill and compassion. First, he wished long life for the man-eater, which softened the latter’s heart. Second, he secured the lives of more than a hundred captive kings by forbidding their slaughter. Third, he ensured their full restoration to their own kingdoms, foreseeing the dangers they would otherwise face.
For the fourth boon, Sutasoma asked the man-eater to abandon the eating of human flesh. After deep inner struggle, fear, and moral reflection stirred by Sutasoma’s steadfast reasoning and example, the man-eater finally agreed, accepting the moral law and the Five Precepts. Thus he was established in Dhamma.
The captive kings were then carefully released and nursed back to health under Sutasoma’s compassionate care, their wounds healed and their strength restored. The gods rejoiced at this transformation, proclaiming it a great miracle of moral conversion. Once recovered, the kings were returned safely to their realms.
Sutasoma then guided the reformed king back to Benares, where, after initial fear from the populace, he was publicly restored to the throne. Sutasoma instructed him to rule according to righteousness, generosity, and the royal virtues. After ensuring stability and goodwill throughout the land, Sutasoma returned to his own kingdom of Indapatta, ruling justly and honoring those who had aided him, including the Tree Deity, around whose shrine a great town arose.
All the kings followed Sutasoma’s teachings, practiced good deeds, and were destined for heaven. The Teacher concluded by identifying the Jātaka, declaring that Sutasoma was himself in a former life, and that the man-eater was Aṅgulimāla, once again transformed through compassion and truth.
.... o ....
J538. Muga-Pakkha Jātaka -- Câu chuyện về sự từ bỏ vĩ đại
Tóm tắt: Các vị sư đang thảo luận về sự từ bỏ vĩ đại. Đức Phật kể một câu chuyện về một vị hoàng tử, từ khi còn nhỏ, đã nhận ra rằng công lý mà ông phải thực thi với tư cách là vua sẽ dẫn ông xuống địa ngục, giống như trong kiếp trước. Từ khoảnh khắc đó, ông giả vờ bị câm. Sau này, khi bị đưa ra để hành quyết, ông đã giải thích lý do giả vờ câm của mình cho những kẻ định giết ông và đã cảm hóa được họ.
.
Câu chuyện này, được kể bởi Đức Phật tại Jetavana, xoay quanh chủ đề về sự từ bỏ vĩ đại. Câu chuyện bắt đầu khi các vị tỳ kheo thảo luận về những đức tính cao quý của sự hy sinh cuộc sống trần tục của Đức Phật, khiến Ngài kể lại câu chuyện về kiếp trước của mình. Câu chuyện bắt đầu với vua Kāsirājā của Benares, người dù có mười sáu nghìn vợ nhưng lại không có người thừa kế. Dân chúng bày tỏ sự lo lắng về dòng dõi và thúc giục nhà vua cầu nguyện để có con trai. Hoàng hậu chính, Candādevī, một người tận tâm với những việc thiện, đã lập lời thề vào đêm trăng tròn để cầu xin một đứa con.
Nhờ lòng mộ đạo của bà, thần Sakka quyết định ban cho bà điều ước bằng cách gửi Bồ Tát tái sinh làm con trai của bà. Bồ Tát, sau khi trải qua một cuộc hành trình dài qua nhiều cõi giới, đã đồng ý được sinh ra làm con trai của hoàng hậu. Sau khi thụ thai, hoàng hậu cảm thấy vô cùng vui mừng, khiến nhà vua sắp xếp mọi thứ để đảm bảo sự thoải mái cho bà và chăm sóc đứa trẻ. Đứa trẻ sơ sinh được nhận ra là đặc biệt, được trang trí bằng những dấu hiệu may mắn, dẫn đến những lễ kỷ niệm lớn.
Khi Bồ Tát lớn lên, ngài bị sốc trước sự tàn bạo của chế độ quân chủ, chứng kiến những bản án khắc nghiệt của cha mình đối với những kẻ phạm tội. Bị ám ảnh bởi ý nghĩ gây ra đau khổ, ngài nhớ lại những trải nghiệm trong quá khứ: từng là một vị vua và sau đó phải chịu đựng những đau khổ tột cùng dưới địa ngục. Sự suy ngẫm này khiến ngài sợ rằng việc làm vua một lần nữa sẽ khiến ngài phải chịu khổ đau.
Trong khoảnh khắc tuyệt vọng, Devadhītā, người từng là mẹ của ngài, đã đưa ra lời khuyên từ chiếc dù thần thánh mà ngài đang nghỉ ngơi dưới đó. Bà khuyên ngài giả vờ bị thiểu năng trí tuệ, từ đó tránh được gánh nặng của cuộc sống hoàng gia và khả năng gây ra sự tàn bạo. Bồ Tát, quyết tâm làm theo lời khuyên của bà, bắt đầu giả vờ ngu ngốc và khờ dại, đánh dấu sự khởi đầu của kế hoạch được sắp đặt cẩn thận của ngài để tránh vòng luân hồi đau khổ gắn liền với chế độ quân chủ, trong khi vẫn được định sẵn cho sự vĩ đại trong tương lai.
.
Câu chuyện, có tựa đề "Tuổi trẻ của Ngài", kể lại cuộc đời thời thơ ấu của Bồ Tát, vị Phật tương lai, nhấn mạnh sự kiên cường phi thường và quyết tâm thiền định của ngài. Để xoa dịu nỗi buồn của con trai, nhà vua triệu tập năm trăm vị quý tộc trẻ tuổi để khơi gợi sự hứng thú của Bồ Tát; tuy nhiên, Bồ Tát, vì sợ hãi địa ngục, không hề khóc đòi sữa dù đang đói. Các bảo mẫu thử nhiều cách khác nhau để tìm ra điểm yếu của ngài, bao gồm không cho sữa, cho trái cây, bánh ngọt, đồ chơi, và thậm chí dàn dựng những cảnh tượng đáng sợ như hỏa hoạn và voi rừng hung dữ, nhưng Bồ Tát vẫn không hề nao núng, chỉ tập trung vào nỗi sợ hãi địa ngục chứ không phải những ham muốn hay nguy hiểm về thể xác.
Khi Bồ Tát lớn lên, ngài phải đối mặt với vô số thử thách, bao gồm cả những cuộc chạm trán với rắn, những người diễn kịch câm, và thậm chí cả một người đàn ông cầm kiếm, tất cả đều nhằm mục đích thử phản ứng của ngài. Mặc dù đã nỗ lực hết sức, họ nhận thấy rằng ngài không hề biểu hiện những nỗi sợ hãi hay ham muốn điển hình của trẻ con. Năm mười sáu tuổi, họ đưa những người phụ nữ xinh đẹp đến với hy vọng khơi gợi tiếng cười hoặc ham muốn, nhưng ngài vẫn giữ thái độ thờ ơ, được rèn luyện bởi sự suy ngẫm siêng năng về bản chất của khổ đau và hậu quả của sự buông thả.
Thất vọng vì không thể tìm ra điểm yếu nào, nhà vua cuối cùng tìm đến các thầy bói, những người đề nghị rằng hoàng tử nên bị loại bỏ vì những điềm báo xấu xung quanh sự ra đời của ngài. Hoàng hậu, tuyệt vọng muốn cứu con trai mình, cầu xin nhà vua và được cho phép để ngài trị vì trong một thời gian giới hạn. Bồ Tát được chào đón long trọng, nhưng khi nỗi sợ hãi của nhà vua tái hiện, ông ra lệnh chôn sống hoàng tử ở bãi tha ma.
Giữa nỗi tuyệt vọng đau lòng của hoàng hậu và cuộc hành quyết sắp xảy ra, Bồ Tát vẫn im lặng. Ngài suy ngẫm về đỉnh cao của những năm tháng kiềm chế bản thân, cảm thấy rằng những nỗ lực của mình sắp gặt hái thành quả. Khi thực sự bị đưa đến bãi tha ma, ngài nắm lấy khoảnh khắc đó để khẳng định quyền kiểm soát cơ thể mình, chứng minh rằng sự kiên trì trong quá trình rèn luyện đã giúp ngài lấy lại khả năng thể chất của mình. Khoảnh khắc quan trọng này đánh dấu một sự chuyển đổi đáng kể trong Bồ Tát, tạo tiền đề cho hành trình hướng tới giác ngộ trong tương lai của ngài.
.
Câu chuyện "Sự từ bỏ" xoay quanh Hoàng tử Temiya, người được trang điểm lộng lẫy, đối mặt với một người đánh xe đang đào mộ cho mình, vì bị nhầm tưởng là người tàn tật và câm. Hoàng tử khẳng định danh tính và phẩm giá của mình, tiết lộ khả năng nói và lý luận với người đánh xe. Anh cảnh báo người đánh xe rằng việc chôn sống anh sẽ gây ra tội lỗi lớn và đọc một loạt những câu thơ nhấn mạnh đức tính của tình bạn và lòng trung thành. Mặc dù tài hùng biện của anh, người đánh xe ban đầu không nhận ra anh cho đến khi vẻ đẹp của hoàng tử hiện rõ.
Khi câu chuyện tiếp diễn, hoàng tử từ bỏ địa vị hoàng gia, bày tỏ mong muốn sống cuộc sống khổ hạnh hơn là quyền lực và giàu sang. Anh nhớ lại quá khứ làm vua, những đau khổ mà anh phải chịu đựng ở địa ngục do cuộc sống vương giả, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc từ bỏ những ràng buộc trần tục. Người đánh xe, Sunanda, nhận ra quyết tâm trở thành người tu hành của hoàng tử, muốn đi theo anh nhưng được hoàng tử thuyết phục hãy trả lại ngựa và xe cho cha mẹ để tránh cho họ phải chịu thêm đau khổ.
Sunanda dự định thông báo cho cha mẹ hoàng tử về nơi ở của anh, hứa sẽ quay lại cùng họ, điều mà hoàng tử đồng ý. Câu chuyện kết thúc bằng việc người đánh xe hoàn thành nhiệm vụ của mình đối với hoàng tử và gia đình, đồng thời suy ngẫm về sức mạnh biến đổi của sự hy sinh và sự tận tâm về mặt tinh thần.
.
Câu chuyện bắt đầu với Candādevī, người mẹ, đang lo lắng chờ đợi tin tức về con trai mình, người trở về cùng người đánh xe ngựa. Quá đau buồn, bà than khóc trước cái chết dường như đã xảy ra của con trai. Tuy nhiên, người đánh xe ngựa thông báo với bà rằng con trai bà vẫn còn sống nhưng đã chọn cuộc sống khổ hạnh do những trải nghiệm trong kiếp trước khi còn là hoàng tử khiến anh ta sợ hãi. Câu chuyện kể chi tiết về việc trong kiếp trước, hoàng tử đã sống xa hoa trong hai mươi năm chỉ để phải chịu đựng tám mươi nghìn năm trong địa ngục vì những tội lỗi trong quá khứ. Giờ đây, tái sinh thành Hoàng tử Temiya, anh ta sống trong bình an, thể hiện sự minh mẫn và tỉnh táo dù phải chịu đựng những khó khăn do chính mình tự đặt ra.
Song song đó, Vua Kāsī chuẩn bị một cuộc rước kiệu lộng lẫy để đoàn tụ với con trai mình, ra lệnh cho một đoàn tùy tùng gồm những người đánh xe ngựa, lính canh và dân chúng để tôn vinh sự trở về của con trai. Khi nhà vua đến tu viện nơi Temiya đang sống, cuộc đoàn tụ đầy xúc động nhấn mạnh sự tương phản giữa cuộc sống của họ—một người sống trong sự xa hoa vương giả và người kia sống trong sự giản dị khổ hạnh.
Cuộc đối thoại chân thành giữa cha và con phản ánh sự lo lắng của nhà vua đối với hạnh phúc của gia đình, trong khi Temiya vẫn kiên định với lối sống khổ hạnh của mình, từ chối những xa hoa mà anh ta từng có. Ngay cả khi được nhà vua dâng thức ăn ngon, Temiya vẫn kiên quyết chỉ ăn lá cây đơn giản, thể hiện sự mãn nguyện với cuộc sống tối giản. Nhà vua và hoàng hậu bày tỏ sự kinh ngạc trước sự kiên cường của con trai và sự thay đổi trong giá trị sống của anh ta.
Cuối cùng, Temiya triết lý về ý nghĩa của việc sống trong hiện tại, nói rằng việc cứ mãi suy nghĩ về những nỗi buồn trong quá khứ hoặc những bất ổn trong tương lai chỉ làm giảm sức sống. Thông điệp mạnh mẽ này là một sự suy ngẫm sâu sắc về sự chấp nhận, làm nổi bật sự bình an nội tâm của hoàng tử giữa cuộc sống khắc khổ về thể chất. Do đó, câu chuyện khắc họa một sự khám phá sâu sắc về mối quan hệ gia đình, tác động của những lựa chọn trong quá khứ và hành trình tâm linh hướng đến sự giác ngộ được tích hợp với các nguyên tắc của chân lý.
.
Trong câu chuyện này, nhà vua suy ngẫm về việc truyền ngôi cho con trai, giới thiệu cho con những vẻ đẹp lộng lẫy của cuộc sống vương giả, bao gồm sự giàu có, sắc đẹp và sự thoải mái. Ông dâng hiến mọi thứ để đảm bảo con trai được hưởng những đặc quyền của vương quyền, và thắc mắc tại sao con lại muốn sống ẩn dật. Tuy nhiên, Bồ Tát, con trai của nhà vua, từ chối những cám dỗ của cuộc sống trần tục, thay vào đó lại chủ trương lối sống khổ hạnh. Ngài suy ngẫm về bản chất phù du của sự tồn tại, xem xét sự không thể tránh khỏi của cái chết và tuổi già, cảnh báo không nên đặt niềm tin vào những niềm vui phù du và vật chất.
Bồ Tát đưa ra những hiểu biết sâu sắc về sự vô thường, nhấn mạnh rằng cuộc sống là phù du và thường bị lãng phí, giống như dòng chảy không ngừng của một con sông. Lời nói của Ngài có sức ảnh hưởng sâu sắc, khiến không chỉ nhà vua mà cả hoàng hậu và tất cả các phi tần đều từ bỏ cuộc sống xa hoa để theo đuổi sự giác ngộ tâm linh. Một lời tuyên bố được đưa ra cho tất cả những ai muốn cùng nhà vua và Bồ Tát thực hiện lời thề khổ hạnh.
Khi họ bắt đầu cuộc sống khổ hạnh, một tu viện được thành lập, nơi Bồ Tát giảng dạy Phật pháp cho những người đến. Câu chuyện nhấn mạnh chủ đề về sự từ bỏ và giác ngộ, cho thấy nhiều người, bao gồm cả một vị vua láng giềng, đã noi gương Bồ Tát và từ bỏ vương quốc của mình. Sự giàu có trước đây của họ bị bỏ quên, minh họa chủ đề từ bỏ những ham muốn trần tục.
Cuối cùng, thông qua những lời dạy của Bồ Tát, nhiều người đạt đến những cảnh giới tâm linh cao, đỉnh điểm là được tái sinh ở cõi trời. Câu chuyện kết thúc với việc Đức Phật tiết lộ rằng Ngài cũng từng chọn con đường khổ hạnh, và xác định các nhân vật trong câu chuyện là những kiếp trước của các đệ tử của Ngài.
.... o ....
J538. Muga-Pakkha Jātaka -- Story of the Great Renunciation
Summary: The monks are discussing the Great Renunciation. The Buddha tells a story about a prince who, at an early age, realized that the justice he would have to administer as king would lead him to hell, as it had in a previous life. From that moment on, he pretended to be dumb. Later, when he was taken out to be killed, he explained his feigned dumbness to his would-be killers and converted them.
.
This story, narrated by the Teacher at Jetavana, delves into the theme of the Great Renunciation. It begins with monks discussing the virtues of the Teacher’s sacrifice of worldly life, prompting him to recount his past. The narrative commences with King Kāsirājā of Benares, who, despite having sixteen thousand wives, lacks an heir. The citizens express concern over the lineage and urge the king to pray for a son. His principal queen, Candādevī, devoted to virtuous deeds, undertakes a vow on the full moon to receive a child.
Through her piety, the god Sakka decides to grant her request by sending the Bodhisatta to be reborn as her son. The Bodhisatta, having endured a long journey through various realms, consents to be born to the queen. Once conceived, the queen experiences thrilling anticipation, prompting the king to arrange for her comfort and the care of the child. The newborn is recognized as special, adorned with auspicious marks of fortune, leading to great celebrations.
As the Bodhisatta grows, he is struck by the cruelty of kingship, witnessing his father’s harsh sentences towards criminals. Disturbed by the idea of causing suffering, he recalls his past experiences: having been a king and later undergoing immense suffering in hell. This contemplation leads him to fear that a repeat of kingship would condemn him once more.
In a moment of despair, the Devadhītā, who previously was his mother, offers guidance from the divine umbrella under which he rests. She advises him to pretend to be mentally impaired, thus avoiding the burdens of royal life and its potential for cruelty. The Bodhisatta, resolved to follow her counsel, begins to feign ignorance and folly, marking the beginning of his carefully laid plan to evade the cycles of suffering associated with kingship while still being destined for future greatness.
.
The narrative, titled "His Youth," chronicles the early life of the Bodhisatta, the future Buddha, emphasizing his extraordinary resilience and meditative determination. To alleviate the melancholy of his son, the king summons five hundred young nobles to stimulate the Bodhisatta's interest; however, the Bodhisatta, motivated by his fear of hell, does not cry for milk despite his hunger. The nurses attempt various strategies to discover his weaknesses, including withholding milk, offering fruits, cakes, playthings, and even staging frightening scenarios like fires and wild elephants, but the Bodhisatta remains unperturbed, focusing on the fear of hell rather than physical desires or dangers.
As the Bodhisatta grows, he withstands numerous challenges, including encounters with serpents, mimes, and even a sword-wielding man, all aimed at testing his reactions. Despite their elaborate efforts, they find that he exhibits no typical childhood fears or desires. At sixteen, they present beautiful women in hopes of invoking laughter or desire, yet he remains detached, conditioned by his diligent contemplation of the nature of suffering and the repercussions of indulgence.
Frustrated by their inability to find a weakness, the king eventually turns to fortune-tellers, who propose that the prince should be eliminated due to the supposed omens surrounding his birth. The queen, desperate to save her son, pleads with the king and is granted permission to have him rule for a limited time. The Bodhisatta receives a ceremonial welcome, but as the king's fears resurface, he orders the prince to be buried alive in the charnel ground.
Amid the queen's heart-wrenching despair and the impending execution, the Bodhisatta remains silent. He contemplates the culmination of his years of restraint, feeling that his efforts are about to bear fruit. When actually called to the charnel ground, he seizes the moment to assert his control over his body, demonstrating that the endurance of his training has enabled him to reclaim his physical capabilities. This pivotal moment marks a significant transformation in the Bodhisatta, setting the stage for his future journey towards enlightenment.
.
The story "The Renunciation" revolves around Prince Temiya, who, adorned with heavenly decorations, confronts a charioteer digging a grave for him, falsely perceived as handicapped and dumb. The prince asserts his identity and dignity, revealing his ability to speak and reasoning with the charioteer. He warns the charioteer that burying him alive would incur great guilt and articulates a series of verses highlighting the virtues of friendship and fidelity. Despite his eloquence, the charioteer initially fails to recognize him until the prince's beauty becomes apparent.
As the narrative unfolds, the prince renounces his royal status, expressing a desire for an ascetic life rather than power and wealth. He recalls his past as a king, the subsequent suffering he endured in hell due to his royal life, and emphasizes the importance of renouncing worldly attachments. The charioteer, Sunanda, recognizing the prince's resolve to become an ascetic, desires to join him but is persuaded by the prince to first return the horses and chariot to prevent his parents from suffering further.
Sunanda plans to inform the prince's parents of his whereabouts, promising to return with them, which the prince agrees to. The tale culminates in the charioteer's fulfillment of his duty to the prince and his family while reflecting on the transformative power of sacrifice and spiritual commitment.
.
The narrative unfolds with Candādevī, the mother, anxiously waiting for news of her son, who returns with the charioteer. Overcome with grief, she laments the apparent death of her son. The charioteer, however, informs her that her son is alive but has chosen a life of asceticism due to previous life experiences of royalty which left him fearful. The narrative details how, in a past existence, the prince lived luxuriously for twenty years only to suffer for eighty thousand years in hell due to his past misdeeds. Now reborn as Prince Temiya, he is at peace, embodying clarity and soundness of mind despite his self-imposed hardships.
In parallel, King Kāsī prepares for a grand procession to reunite with his son, commanding a vast assembly of charioteers, guards, and citizens to honor his return. As the king travels to the hermitage where Temiya resides, the poignant reunion emphasizes the contrasts between their lives—one of royal splendor and the other of ascetic simplicity.
The heartfelt dialogue between father and son reflects the king's concern for his family's wellbeing, while Temiya remains steadfast in his ascetic lifestyle, refusing the luxuries he once had. Even when offered sumptuous food by the king, Temiya insists on eating simple leaves, demonstrating his contentment with minimalistic living. The king and queen express their astonishment at their son’s resilience and the transformation of his values.
Ultimately, Temiya philosophizes on the significance of living in the present, stating that dwelling on past sorrows or future uncertainties only diminishes vitality. This powerful message serves as a profound reflection on acceptance, highlighting the prince's inner peace amidst physical austerity. Thus, the story portrays a deep exploration of familial bonds, the impact of past choices, and the spiritual journey toward enlightenment integrated with the principles of the truth.
.
In this narrative, the king contemplates transferring his kingdom to his son, presenting him with the splendors of royal life, including wealth, beauty, and comfort. He offers everything to ensure his son enjoys the privileges of kingship, questioning why he would linger in a hermitage. However, the Bodhisatta, the king’s son, rejects the trappings of worldly life, advocating instead for an ascetic lifestyle. He reflects on the fleeting nature of existence, examining the inevitability of death and old age, warning against placing one's trust in ephemeral joys and material possessions.
The Bodhisatta articulates profound insights on mortality, emphasizing that life is transient and often wasted, much like the inexorable flow of a river. His words resonate deeply, leading not only the king but also the queen and all of their royal wives to abandon their luxurious life in pursuit of spiritual fulfillment. A proclamation is made for all who wish to take up the ascetic vow together with the king and the Bodhisatta.
As they embrace asceticism, a hermitage is established, with the Bodhisatta teaching Dhamma to those who arrive. The narrative underlines themes of renunciation and enlightenment, showing how many, including a neighboring king, follow the Bodhisatta's example and relinquish their kingdoms. Their previous riches become neglected, illustrating the theme of abandoning worldly desires.
Eventually, through the Bodhisatta's teachings, many attain spiritual heights, culminating in rebirth in heavenly realms. The story concludes with the Buddha revealing that he too had once chosen the path of an ascetic, identifying characters in the tale as previous incarnations of his disciples.
.... o ....
J539. Mahajanaka Jātaka -- Chuyện về một vị vua trở thành người tu hành khổ hạnh.
Tóm tắt: Các vị sư thảo luận về sự từ bỏ vĩ đại. Đức Phật kể một câu chuyện về một vị hoàng tử được nuôi dưỡng ở nơi lưu đày và đi trên một con tàu buôn. Khi tất cả mọi người khác đều thiệt mạng trên biển, ông đã sống sót nhờ nỗ lực của chính mình đủ lâu để một vị nữ thần giúp ông trở về thành phố và nhận lại quyền thừa kế. Sau khi cai trị một cách khôn ngoan trong nhiều năm, ông đã từ bỏ vương quốc của mình và trở thành một nhà tu khổ hạnh.
.
Khi đang trú ngụ tại Jetavana, Đức Phật đã kể câu chuyện này liên quan đến sự từ bỏ thế tục vĩ đại. Khi các vị tỳ kheo đang thảo luận về việc Đức Như Lai từ bỏ thế giới, Đức Phật giải thích rằng đây không phải là lần đầu tiên sự từ bỏ như vậy xảy ra, và Ngài kể lại một sự kiện từ kiếp trước.
Ngày xưa, tại Mithilā, thuộc vương quốc Videha, có một vị vua tên là Mahājanaka. Ông có hai người con trai, Ariṭṭhajanaka và Polajanaka. Ông phong người con trai cả làm thái tử, còn người con trai út làm tổng tư lệnh. Sau khi nhà vua qua đời, Ariṭṭhajanaka lên ngôi và phong Polajanaka làm thái tử.
Một thời gian sau, một người nô lệ tố cáo thái tử âm mưu giết vua. Khi lời tố cáo được lặp đi lặp lại nhiều lần, sự nghi ngờ nảy sinh, và Polajanaka bị xiềng xích và giam giữ dưới sự canh gác nghiêm ngặt gần cung điện. Tuyên bố mình vô tội, ông đã thề nguyện long trọng, cầu xin sự thật phán xét mình. Ngay lập tức, xiềng xích của ông vỡ tan và cửa nhà tù mở ra. Ông trốn đến một ngôi làng biên giới, nơi người dân nhận ra ông và che chở cho ông, khiến nhà vua không thể bắt được ông.
Dần dần, Polajanaka giành quyền kiểm soát vùng biên giới và tập hợp được một lực lượng hùng mạnh. Nhận ra rằng mình thực sự đã trở thành kẻ thù của anh trai, ông dẫn quân tiến về Mithilā và đóng trại bên ngoài thành phố. Nhiều cư dân, cùng với quân đội từ các thị trấn khác, đã gia nhập cùng ông. Trận chiến diễn ra, và Ariṭṭhajanaka bị giết chết.
Sau cái chết của nhà vua, sự hỗn loạn lan rộng khắp thành phố. Hoàng hậu chính, đang mang thai một đứa con có số phận vĩ đại, bí mật thu thập châu báu, cải trang bằng quần áo cũ rách và lẻn ra khỏi thành phố qua cổng phía bắc. Không biết đường đi, bà ngồi bên đường hỏi những người lữ hành đi đến Campā.
Đứa trẻ trong bụng bà chính là Đức Phật, tái sinh sau khi hoàn thành các Ba-la-mật, và sự hiện diện của Ngài đã làm rung chuyển cả trời đất. Sakka, nhận thấy điều này, đã cải trang và đưa hoàng hậu an toàn bằng một cỗ xe kỳ diệu đến Campā. Ở đó, ông biến mất, để lại bà ở cổng thành.
Hoàng hậu nghỉ ngơi trong một hội trường, nơi một vị Bà-la-môn uyên bác, cảm động bởi tình cảm tự nhiên như thể bà là em gái của mình, đã che chở cho bà. Ông đưa bà về nhà mình, nơi bà được chăm sóc chu đáo và kính trọng. Đến lúc thích hợp, bà sinh hạ một người con trai, được đặt tên là Mahājanaka, theo tên ông nội của cậu bé.
Khi lớn lên, sức mạnh và tinh thần của cậu bé vượt trội hơn hẳn những đứa trẻ khác. Khi bị chế giễu là con trai của một người góa phụ, cậu bé cảm thấy buồn bã và hỏi mẹ mình. Ban đầu, bà giấu kín sự thật, nhưng khi bị cậu bé gặng hỏi, cuối cùng bà đã tiết lộ thân phận hoàng tộc của cậu và số phận của cha cậu. Như vậy, Mahājanaka biết rằng mình là con trai của vị vua bị giết hại của Mithilā, được bảo vệ trong cảnh lưu đày để bảo toàn tính mạng và số phận của mình.
Từ đó trở đi, Mahājanaka không còn bận tâm khi người khác gọi mình là con trai của góa phụ nữa. Trước khi tròn mười sáu tuổi, chàng đã thông thạo ba bộ kinh Veda và tất cả các môn khoa học, và ở tuổi đó, chàng cũng trở nên vô cùng tuấn tú. Suy ngẫm về thân phận thực sự của mình, chàng quyết tâm giành lại vương quốc thuộc về cha mình. Chàng xem xét các nguồn lực sẵn có và lên kế hoạch cẩn thận.
Mẹ chàng sở hữu một kho báu gồm ngọc trai, đá quý và kim cương, đủ để hỗ trợ cho việc giành lại ngai vàng. Mahājanaka chỉ nhận một nửa số tài sản này, với ý định nhân bội nó thông qua thương mại. Quyết tâm làm giàu hơn nữa, chàng lên đường cùng các thương nhân đến Suvaṇṇabhūmi, bất chấp nỗi lo sợ của mẹ về những hiểm nguy trên biển.
Ngay trong ngày chàng khởi hành, Polajanaka, vị vua tiếm quyền, mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo. Trong khi đó, con tàu của Mahājanaka vượt đại dương với tốc độ rất nhanh, nhưng sự di chuyển dữ dội đã khiến con tàu bị vỡ tan giữa biển. Khi con tàu chìm xuống và hành khách chết trong nỗi kinh hoàng, Mahājanaka vẫn giữ bình tĩnh và kiên định. Chuẩn bị sẵn sàng từ trước, chàng bám vào cột buồm, và khi con tàu cuối cùng chìm xuống, chàng nhảy ra và bắt đầu bơi giữa đại dương bằng sức mạnh và ý chí phi thường. Cùng ngày hôm đó, Polajanaka qua đời.
Trong bảy ngày, Mahājanaka một mình vượt qua sóng gió, được tiếp sức bởi nỗ lực và quyết tâm. Trong thời gian đó, nữ thần biển Maṇimekhalā, người bảo hộ đại dương, cuối cùng đã chú ý đến chàng. Nhận thấy phẩm chất phi thường và sự kiên trì bền bỉ của chàng, bà đã thử thách ý chí của chàng và nhận ra sự tận tâm không lay chuyển của chàng đối với bổn phận. Cảm động trước lòng dũng cảm của chàng, bà nâng chàng lên khỏi mặt biển và đưa chàng bay nhanh chóng đến Mithilā. Ở đó, bà nhẹ nhàng đặt chàng lên một tảng đá nghi lễ trong một khu rừng xoài và giao chàng cho các vị thần địa phương chăm sóc trước khi trở về nơi ở trên thiên giới của mình.
Vào thời điểm đó, Mithilā không có vua. Polajanaka không có con trai, chỉ có một người con gái thông minh và uyên bác tên là Sīvalīdevī. Trước khi chết, ông đã ra lệnh rằng vương quốc sẽ thuộc về người có thể vượt qua một số thử thách: làm hài lòng công chúa, nhận ra đầu của một chiếc giường vuông, giương cung mạnh mẽ hoặc tìm ra mười sáu kho báu bị giấu kín. Sau khi hoàn tất các nghi lễ tang lễ, các vị quan đại thần đã tiến hành các cuộc thử thách, nhưng không một vị tướng quân, quan chức hay quý tộc nào chứng tỏ được mình xứng đáng.
Không tìm được người cai trị phù hợp, các vị quan đại thần đã nghe theo lời khuyên của vị giáo sĩ hoàng gia và thả chiếc xe ngựa lễ hội, tin rằng nó sẽ tìm ra người được định mệnh chọn để cai trị. Được trang trí bằng các biểu tượng hoàng gia và được hộ tống bởi một đội quân, chiếc xe ngựa đi qua thành phố và ra khỏi cổng thành cho đến khi tiến vào công viên. Ở đó, nó vòng quanh tảng đá nghi lễ và dừng lại bên cạnh Mahājanaka đang ngủ.
Vị giáo sĩ, nhận thấy những dấu hiệu vĩ đại trên người ông, đã ra lệnh tấu nhạc. Mahājanaka tỉnh dậy, bình tĩnh quan sát đám đông, và không tỏ ra sợ hãi hay háo hức. Nhận ra những dấu hiệu của quyền lực tối cao trên cơ thể ông, vị giáo sĩ tuyên bố ông xứng đáng cai trị. Mahājanaka chấp nhận ngôi vua, ngồi lên tảng đá và được làm lễ đăng quang ngay tại chỗ.
Như vậy, Mahājanaka đã lên ngôi vua của Mithilā. Ông tiến vào thành phố với vẻ uy nghi hoàng gia, ngồi lên ngai vàng và thiết lập trật tự triều đình, khôi phục lại sự cai trị chính đáng cho vương quốc của tổ tiên mình.
Công chúa Sīvalī quyết định thử thách vị vua mới bằng cách quan sát hành vi của ông chứ không hỏi trực tiếp. Nàng sai người đến triệu kiến, nhưng ông không tỏ ra vội vã hay bồn chồn. Ông vẫn bình tĩnh lo liệu việc triều chính, tập trung vào kế hoạch xây dựng cung điện và vương quốc, không hề nao núng trước những lời triệu tập liên tiếp. Từ sự điềm tĩnh và tự chủ đó, công chúa nhận thấy chiều sâu tính cách của ông.
Khi cuối cùng ông đến cung điện, ông bước đi với vẻ uy nghi tự nhiên và thoải mái. Phong thái của ông oai vệ đến nỗi chính công chúa cũng bị chinh phục và theo bản năng đưa tay ra đỡ khi ông bước lên bục. Qua cử chỉ tự nhiên đó, mọi người đều hiểu rằng ông đã đáp ứng được điều kiện làm hài lòng nàng, một trong những thử thách mà vị vua tiền nhiệm đã đặt ra.
Những thử thách tiếp theo nối tiếp nhau. Một thử thách yêu cầu xác định đầu của một chiếc giường vuông, một nhiệm vụ dường như không thể thực hiện chỉ bằng cách quan sát. Bằng sự khéo léo thầm lặng và khả năng quan sát tinh tế, nhà vua đã xác định đúng, cho thấy không chỉ trí thông minh mà còn cả sự tinh thông trong việc nhận biết những dấu hiệu nhỏ nhặt. Một thử thách khác yêu cầu căng một cây cung khổng lồ mà thông thường cần sức mạnh của nhiều người. Nhà vua đã thực hiện điều đó một cách dễ dàng, không phô trương hay gắng sức, như thể đang cầm một vật bình thường.
Thử thách cuối cùng và phức tạp nhất liên quan đến việc tìm lại mười sáu kho báu lớn bị giấu kín, chỉ được mô tả bằng những manh mối tượng trưng. Lắng nghe chăm chú danh sách, nhà vua đã nắm bắt được ý nghĩa của chúng một cách rõ ràng và kiên nhẫn. Ngày hôm sau, ông đã tìm ra từng kho báu một cách có phương pháp bằng cách hiểu được thói quen và đức tính của vị vua tiền nhiệm. Biết rằng vị vua trước đây đã tôn kính các vị Phật độc giác, ông suy luận rằng một số kho báu được giấu ở những nơi liên quan đến những chuyến thăm, lời tạm biệt và sự di chuyển của họ. Các kho báu khác được tìm thấy thông qua việc giải thích cẩn thận các biểu tượng liên quan đến ngưỡng cửa, ngựa hoàng gia, cấu trúc cung điện, cây cối, nước và những nơi làm lễ. Từng kho báu một, tất cả mười sáu kho báu đều được tìm thấy, trước sự kinh ngạc và vui mừng của người dân, những người ngưỡng mộ trí tuệ và sự sáng suốt của ông.
Sau khi hoàn thành tất cả các thử thách, nhà vua đã dành sự giàu có mới tìm được cho lòng từ thiện. Ông ra lệnh xây dựng những đại sảnh bố thí khắp thành phố và phân phát của cải một cách rộng rãi. Sau đó, ông triệu tập mẹ và vị đạo sĩ đã hướng dẫn ông những năm trước, bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đối với họ. Những ngày đầu trị vì, vua Mahājanaka, con trai của Ariṭṭhajanaka, cai trị xứ Videha bằng trí tuệ và tài năng khéo léo. Tin tức về sự sáng suốt và đức hạnh của ngài lan truyền nhanh chóng, thu hút đám đông từ khắp nơi đến dâng lễ vật. Thành phố hân hoan ăn mừng, trang hoàng cung điện, tràn ngập hương thơm, âm nhạc và lễ vật, và quy tụ những cuộc hội họp lớn của các vị quan, bà la môn, thương gia, nghệ sĩ và nhạc sĩ. Sự huy hoàng của triều đình sánh ngang với các vị thần.
Ngồi dưới chiếc lọng trắng hoàng gia, nhà vua chiêm ngưỡng vẻ tráng lệ này và suy ngẫm về cuộc đấu tranh trước đây của mình giữa biển cả mênh mông. Nhớ lại rằng chính lòng dũng cảm và sự kiên trì đã giúp ngài vượt qua nguy hiểm để đến được nơi an toàn, ngài nhận ra rằng chính sự nỗ lực kiên định ấy giờ đây đã mang lại thành quả là quyền lực và danh dự. Ký ức này khiến ngài tràn đầy niềm vui thầm lặng và quyết tâm vững chắc.
Sau đó, vua Mahājanaka thực hiện mười bổn phận của một vị vua một cách chính trực và tiếp tục phụng sự và hỗ trợ các vị Phật độc giác. Theo thời gian, Hoàng hậu Sīvalī sinh hạ một người con trai có những dấu hiệu tốt lành, được đặt tên là Hoàng tử Dīghāvu. Khi hoàng tử đến tuổi trưởng thành, nhà vua bổ nhiệm ngài làm phó vương, đảm bảo sự ổn định và liên tục của sự cai trị chính nghĩa ở Videha.
Một ngày nọ, khi trái cây và hoa được mang đến từ khu vườn hoàng gia, vua Mahājanaka rất hài lòng và ra lệnh cho người làm vườn chuẩn bị khu vườn để nhà vua đến thăm. Ngay sau đó, nhà vua cưỡi voi hoàng gia tiến vào khu vườn, cùng với tùy tùng. Gần lối vào có hai cây xoài, cả hai đều xanh tươi: một cây sai trĩu quả ngọt, cây kia hoàn toàn không có quả. Vì không ai dám chạm vào trái cây trước khi nhà vua, nên hai cây vẫn còn nguyên vẹn. Khi đi ngang qua, nhà vua hái một quả xoài và ăn. Vị ngon tuyệt vời của nó khiến nhà vua rất thích thú, và ông quyết định sẽ ăn thêm khi trở về.
Khi mọi người biết rằng nhà vua đã nếm thử trái cây, sự kiềm chế của đám đông biến mất. Các quan chức, tùy tùng và người hầu xúm lại cây, hái trái, bẻ cành và vặt lá cho đến khi cây xoài từng tươi tốt giờ đây chỉ còn trơ trụi. Cây xoài bên cạnh, không có gì để cho, vẫn còn nguyên vẹn và tươi đẹp.
Khi nhà vua rời đi, ông nhận thấy sự tương phản và hỏi các vị quan về nguyên nhân. Cảnh tượng đó khiến ông suy nghĩ sâu sắc. Ông nhận ra rằng cây sai quả đã bị tàn phá vì sự sung túc của nó, trong khi cây không có quả vẫn còn nguyên vẹn vì nó không có gì đáng thèm muốn. Từ đó, ông rút ra một bài học sâu sắc: sự sở hữu mang lại nguy hiểm, trong khi sự từ bỏ mang lại sự an toàn. Ông nhận ra rằng vương quốc giống như cây sai quả, và cuộc sống khổ hạnh giống như cây không có quả. Với nhận thức này, ông quyết định từ bỏ vinh quang trần thế và chọn con đường khổ hạnh.
Trở về thành phố, ông rút lui khỏi cuộc sống công cộng, sống ẩn dật trên đỉnh cung điện và tuân theo kỷ luật của một người khổ hạnh. Theo thời gian, người dân tụ tập bên dưới, băn khoăn về sự vắng mặt và sự thay đổi trong hành vi của ông. Họ được người hầu cho biết rằng nhà vua đã nhập định sâu sắc và hướng suy nghĩ của mình đến các vị Phật độc giác, tìm kiếm con đường giải thoát hoàn toàn.
Sau bốn tháng tu tập nội tâm, quyết tâm của ông càng mạnh mẽ hơn. Cung điện đối với ông dường như là một nơi đầy đau khổ, và toàn bộ thế giới dường như đang bốc cháy trong đau khổ. Ông khao khát rời bỏ sự huy hoàng của Mithilā và đến dãy Himalaya. Bí mật, ông chuẩn bị cho cuộc sống khổ hạnh, kiếm được những chiếc áo choàng đơn giản và một chiếc bát đất, cắt tóc và râu, và mặc trang phục của một người khổ hạnh. Vào lúc bình minh ngày hôm sau, ông xuống khỏi cung điện và bắt đầu cuộc hành trình. Hoàng hậu Sīvalī, nhận ra sự việc đã xảy ra quá muộn, đã cùng tùy tùng và dân chúng thành phố đuổi theo nhà vua. Mặc dù đã cố gắng ngăn cản ông bằng những biểu hiện đau buồn, những lời cảnh báo giả tạo và những tai họa được dàn dựng, nhà vua vẫn không hề nao núng, vì ông đã từ bỏ mọi cảm giác sở hữu và sợ hãi. Ngay cả khi đám đông theo ông ra khỏi thành phố, ông vẫn thể hiện sự đoạn tuyệt cuối cùng bằng cách vẽ một ranh giới mà không ai có thể vượt qua, mặc dù cuối cùng hoàng hậu đã tìm cách vượt qua được ranh giới đó.
Cuộc hành trình về phía bắc tiếp tục, với hoàng hậu và đám đông theo sau suốt nhiều dặm. Trên đường đi, những nhà khổ hạnh có trí tuệ siêu phàm xuất hiện và khuyên nhủ nhà vua, xác nhận sự khôn ngoan và kiên định trong sự từ bỏ của ông. Mỗi cuộc gặp gỡ đều củng cố quyết tâm của ông. Ông giải thích rằng không phải sự bất bình hay sự phản bội nào đã khiến ông rời bỏ, mà là một cái nhìn rõ ràng về sự khổ đau và vô thường của thế giới. Ông tuyên bố rằng những người thầy thực sự của ông chính là bài học thầm lặng từ những cây xoài.
Cuối cùng, thông qua những dấu hiệu và lời dạy lặp đi lặp lại, nhà vua tìm cách giải thoát hoàng hậu khỏi sự ràng buộc của bà. Một sự việc đơn giản liên quan đến những chiếc vòng tay của một đứa trẻ đã cho ông thấy rằng sự đồng hành chính là một trở ngại đối với cuộc sống độc cư mà ông tìm kiếm. Sau đó, một người thợ thủ công đang chế tạo mũi tên đã xác nhận cùng một sự thật: sự tập trung và tự do xuất phát từ sự đơn độc, chứ không phải sự chia rẽ. Sau những bài học này, nhà vua đã dứt khoát cắt đứt mọi mối ràng buộc còn lại.
Khi hoàng hậu không thể tiếp tục theo kịp nữa, vì quá đau buồn, nhà vua biến mất vào rừng, xóa bỏ dấu vết của mình. Ông tiến vào dãy Himalaya và, trong vòng bảy ngày, đạt được trí tuệ siêu phàm và những thành tựu thiền định, không bao giờ trở lại thế giới loài người nữa.
Hoàng hậu Sīvalī đã tôn vinh sự từ bỏ của ông bằng cách dựng những ngôi đền tại những nơi gắn liền với những lời dạy cuối cùng của ông. Bà trở về Mithilā, đảm bảo việc đăng quang của con trai họ, Hoàng tử Dīghāvu, và bản thân bà cũng sống cuộc đời khổ hạnh. Thông qua thiền định, bà đạt được sự nhập định sâu sắc và được định mệnh tái sinh vào cõi Brahma.
Như vậy, Đức Phật đã kết thúc câu chuyện bằng cách tuyên bố rằng đây không phải là sự từ bỏ vĩ đại đầu tiên mà Đức Như Lai đã thực hiện. Khi xác định câu chuyện Jātaka, Ngài đã tiết lộ danh tính trước đây của những người liên quan, tuyên bố rằng chính Ngài đã từng là Vua Mahājanaka.
.... o ....
J539. Mahajanaka Jātaka -- The story of a king who became an ascetic.
Summary: The monks are discussing the Great Renunciation. The Buddha tells a story about a prince who was raised in exile and sailed on a merchant’s ship. When everyone else perished at sea, he survived through his own efforts long enough for a Devadhītā to help him reach his city and claim his inheritance. After ruling wisely for many years, he renounced his kingdom and became an ascetic.
.
While dwelling at Jetavana, the Teacher related this story concerning the Great Renunciation. When the monks were discussing the Tathāgata’s renunciation of the world, the Teacher explained that this was not the first time such a renunciation had taken place, and he recounted an event from a former life.
Long ago there ruled in Mithilā, in the kingdom of Videha, a king named Mahājanaka. He had two sons, Ariṭṭhajanaka and Polajanaka. The elder he appointed as viceroy, while the younger he made commander-in-chief. After the king’s death, Ariṭṭhajanaka ascended the throne and in turn appointed Polajanaka as viceroy.
In time, a slave accused the viceroy of plotting to kill the king. When the report was repeated often, suspicion arose, and Polajanaka was bound in chains and imprisoned under guard near the palace. Declaring his innocence, he made a solemn vow, calling upon truth itself to judge him. Immediately his chains shattered and the door of his prison opened. He fled to a frontier village, where the people recognized him and gave him protection, so that the king could not seize him.
Gradually Polajanaka gained control of the frontier district and gathered a strong following. Realizing that he had now truly become his brother’s enemy, he marched on Mithilā with an army and encamped outside the city. Many of the inhabitants, along with forces from other towns, joined him. Battle followed, and Ariṭṭhajanaka was slain.
After the king’s death, confusion spread through the city. The chief queen, pregnant with a child of great destiny, secretly gathered her treasures, disguised herself in worn clothing, and slipped out of the city by the northern gate. Not knowing the roads, she sat by the way asking for travelers bound for Campā.
The child in her womb was the Great Being himself, reborn after fulfilling the Perfections, and his presence shook the heavens. Sakka, perceiving this, came in disguise and conveyed the queen safely in a miraculous carriage to Campā. There he vanished, leaving her at the city gate.
The queen rested in a hall, where a learned brahmin, moved by a natural affection as though she were his sister, took her under his protection. He brought her to his home, where she was cared for with honor. In due time she gave birth to a son, whom they named Mahājanaka, after his grandfather.
As the boy grew, his strength and spirit surpassed those of other children. When mocked as a widow’s son, he became troubled and questioned his mother. At first she concealed the truth, but when pressed she finally revealed his royal birth and the fate of his father. Thus Mahājanaka learned that he was the son of the slain king of Mithilā, preserved in exile for the sake of his life and destiny.
From that time onward, Mahājanaka was no longer disturbed when others called him the widow’s son. Before he reached the age of sixteen, he had mastered the three Vedas and all the sciences, and by that age he had also grown strikingly handsome. Reflecting on his true birth, he resolved to recover the kingdom that had belonged to his father. He considered the resources available to him and planned his course carefully.
His mother possessed a great store of pearls, jewels, and diamonds, sufficient to support a claim to the throne. Mahājanaka accepted only half of this wealth, intending to multiply it through trade. Determined to acquire even greater riches, he embarked with merchants bound for Suvaṇṇabhūmi, despite his mother’s fears about the dangers of the sea.
On the very day of his departure, Polajanaka, the usurping king, was struck by a fatal illness. Meanwhile, Mahājanaka’s ship crossed the ocean at great speed, but its violent passage caused the vessel to break apart in mid-sea. As the ship sank and its passengers perished in terror, Mahājanaka remained calm and resolute. Preparing himself with foresight, he clung to the mast, and when the vessel finally went down, he leapt free and began to make his way through the ocean by sheer strength and determination. On that same day, Polajanaka died.
For seven days Mahājanaka crossed the waves alone, sustained by effort and resolve. During this time, the sea goddess Maṇimekhalā, guardian of the ocean, finally noticed him. Recognizing his extraordinary merit and steadfast perseverance, she tested his resolve and discerned his unwavering commitment to duty. Moved by his courage, she lifted him from the sea and carried him swiftly through the air to Mithilā. There she laid him gently upon a ceremonial stone in a mango grove and entrusted him to the care of the local deities before returning to her celestial abode.
At that time Mithilā was without a king. Polajanaka had left no son, only a wise and learned daughter named Sīvalīdevī. Before his death, he had decreed that the kingdom should pass to one who could satisfy certain tests: pleasing the princess, recognizing the head of a square bed, stringing a mighty bow, or uncovering sixteen hidden treasures. After the funeral rites were completed, the ministers attempted these trials, but none of the generals, officials, or nobles proved worthy.
Unable to find a suitable ruler, the ministers followed the counsel of the royal priest and released the festal chariot, believing it would seek out the one destined to rule. Decorated with royal insignia and escorted by an army, the chariot passed through the city and beyond its gates until it entered the park. There it circled the ceremonial stone and came to rest beside the sleeping Mahājanaka.
The priest, observing the signs of greatness upon him, ordered music to be played. Mahājanaka awoke, calmly assessed the gathering, and showed neither fear nor eagerness. Recognizing the marks of universal sovereignty upon his body, the priest proclaimed him fit to rule. Mahājanaka accepted the kingship, seated himself upon the stone, and was anointed on the spot.
Thus Mahājanaka ascended the throne of Mithilā. He entered the city in royal splendor, took his seat upon the throne, and established the order of his court, restoring rightful rule to the kingdom of his ancestors.
The princess Sīvalī resolved to test the new king by observing his conduct rather than by questioning him directly. She sent messengers to summon him, but he showed no haste or agitation. He continued calmly attending to matters of state, absorbed in his plans for the palace and the kingdom, unmoved by repeated summons. From this unruffled composure and self-mastery, the princess perceived the depth of his character.
When he finally made his way to the palace, he did so with natural dignity and unforced ease. His bearing was so majestic that the princess herself was overcome and instinctively offered her hand for support as he ascended the dais. By this spontaneous gesture, it became clear to all that he had fulfilled the condition of pleasing her, which had been one of the tests set by the former king.
Further trials followed. One required discerning the head of a square bed, a task seemingly impossible by mere inspection. Through quiet ingenuity and keen perception, the king identified it correctly, revealing not only intelligence but mastery of subtle signs. Another test demanded the stringing of a mighty bow that ordinarily required the strength of many men. The king accomplished this effortlessly, without display or strain, as though handling an ordinary object.
The final and most complex test concerned the recovery of sixteen great hidden treasures, described only through symbolic clues. Listening attentively to the list, the king grasped their meaning with clarity and patience. On the following day, he methodically uncovered each treasure by understanding the habits and virtues of the former ruler. Knowing that the previous king had honored Paccekabuddhas, he inferred that several treasures were hidden in places associated with their visits, farewells, and movements. Other treasures were revealed through careful interpretation of figurative expressions referring to thresholds, royal mounts, palace structures, trees, water, and ceremonial places. One by one, all sixteen treasures were brought forth, to the astonishment and joy of the people, who marveled at his wisdom and insight.
Having completed all the tests, the king dedicated the newly revealed wealth to generosity. He ordered great halls for almsgiving to be built throughout the city and distributed riches freely. He then summoned his mother and the brahmin who had guided him in earlier years, honoring them with deep gratitude and reverence.
In the early days of his reign, King Mahājanaka, son of Ariṭṭhajanaka, ruled over Videha with wisdom and skillful means. News of his discernment and virtue spread rapidly, drawing crowds from near and far who came bearing gifts. The city rejoiced in celebration, adorning the palace, filling the air with fragrance, music, and offerings, and gathering in great assemblies of ministers, brahmins, merchants, performers, and musicians. The splendor of the court rivaled that of the gods.
Seated beneath the white royal umbrella, the king surveyed this magnificence and reflected on his former struggle in the vast ocean. Remembering that it was courage and perseverance that had carried him through danger to safety, he recognized that the same steadfast effort had now borne fruit in sovereignty and honor. This recollection filled him with quiet joy and firm resolve.
Thereafter, King Mahājanaka fulfilled the ten royal duties with righteousness and continued to serve and support the Paccekabuddhas. In time, Queen Sīvalī gave birth to a son endowed with auspicious marks, who was named Prince Dīghāvu. When the prince came of age, the king appointed him as viceroy, ensuring the stability and continuity of the righteous rule of Videha.
One day, when fruits and flowers were brought from the royal garden, King Mahājanaka was pleased and instructed the gardener to prepare the grounds for a visit. Soon afterward, the king entered the garden riding on his royal elephant, accompanied by his retinue. Near the entrance stood two mango trees, both bright green: one laden with sweet fruit, the other entirely barren. Since no one dared to touch the fruit before the king, the trees had remained untouched. As he passed by, the king plucked and ate a mango. Its taste struck him as extraordinary, and he resolved to eat more upon his return.
Once it became known that the king had tasted the fruit, the restraint of the crowd vanished. Officials, attendants, and servants rushed to the tree, taking fruit, breaking branches, and stripping leaves until the once-luxuriant tree stood shattered and bare. The barren tree beside it, having nothing to offer, remained untouched and beautiful.
As the king departed, he noticed the contrast and learned the cause from his ministers. The sight moved him deeply. He reflected that the fruitful tree had been ruined because of its abundance, while the barren tree remained whole because it possessed nothing desirable. From this he drew a profound lesson: possession invites danger, while renunciation brings safety. The kingdom, he realized, was like the fruitful tree, and the ascetic life like the barren one. With this insight, he resolved to abandon worldly glory and embrace renunciation.
Returning to the city, he withdrew from public life, living in solitude at the top of the palace and adopting the discipline of an ascetic. Over time, the people gathered below, puzzled by his absence and changed conduct. They learned from attendants that the king had entered deep contemplation and had turned his thoughts toward the Paccekabuddhas, seeking the path of complete detachment.
After four months of inward discipline, his resolve intensified. The palace appeared to him as a place of torment, and the entire world seemed aflame with suffering. He longed to leave the splendor of Mithilā and depart for the Himālayas. Secretly, he prepared for renunciation, obtaining simple robes and an earthen bowl, cutting off his hair and beard, and donning the dress of an ascetic. At dawn the next day, he descended from the palace and set out on foot.
Queen Sīvalī, realizing too late what had happened, followed him with her attendants and the people of the city. Despite attempts to deter him through displays of grief, false alarms, and staged calamities, the king remained unmoved, having relinquished all sense of ownership and fear. Even when crowds followed him beyond the city, he demonstrated his final severance by drawing a boundary that none could cross, though the queen eventually forced her way beyond it.
The journey northward continued, with the queen and the multitude following for many leagues. Along the way, ascetics endowed with supernormal insight appeared and exhorted the king, confirming the wisdom and firmness of his renunciation. Each encounter strengthened his resolve. He explained that no grievance or betrayal had driven him away, but rather a clear vision of the world’s suffering and impermanence. His true teachers, he declared, had been the silent lesson of the mango trees.
At last, through repeated signs and teachings, the king sought to release the queen from her attachment. A simple incident involving a child’s bracelets revealed to him that companionship itself was an obstacle to the solitary life he sought. Later, a craftsman shaping an arrow confirmed the same truth: focus and freedom arise from singleness, not division. After these lessons, the king decisively severed all remaining bonds.
When the queen could no longer follow, overcome by grief, the king disappeared into the forest, erasing his tracks. He entered the Himālayas and, within seven days, attained supernormal knowledge and meditative attainments, never again returning to the world of men.
Queen Sīvalī honored his renunciation by erecting shrines at the places associated with his final teachings. She returned to Mithilā, ensured the coronation of their son, Prince Dīghāvu, and herself adopted the ascetic life. Through meditation, she attained deep absorption and was destined for rebirth in the Brahma realm.
Thus the Teacher concluded the account by declaring that this was not the first Great Renunciation undertaken by the Tathāgata. In identifying the Jātaka, he revealed the former identities of those involved, declaring that he himself had once been King Mahājanaka.
.... o ....
J540. Sama Jātaka -- Chuyện về một nhà sư chăm sóc cha mẹ.
Tóm tắt: Một vị sư hỗ trợ cha mẹ mình, những người đã rơi vào cảnh nghèo khó và không còn ai khác ở nhà chăm sóc họ. Đức Phật kể một câu chuyện về một cậu bé sinh ra từ hai vị tu sĩ khổ hạnh, người đã chăm sóc cha mẹ sau khi họ bị rắn cắn mù mắt. Một vị vua, trong lúc đi săn, đã giết chết cậu bé nhưng đề nghị đảm nhận trách nhiệm chăm sóc cha mẹ cậu. Cuối cùng, cậu bé được hồi sinh, và cha mẹ cậu cũng lấy lại được thị lực.
.
Tại thành phố Savatthi, có một thương gia giàu có vô cùng, cuộc sống của ông xoay quanh người con trai duy nhất, một chàng trai có tính cách dễ mến và lòng hiếu thảo sâu sắc. Một buổi chiều nọ, khi đang nhìn ra từ ban công ngôi nhà lộng lẫy của mình, chàng trai nhìn thấy một đám đông rộng lớn, trang nghiêm đang mang vòng hoa và hương thơm tiến về tu viện Jetavana. Bị thôi thúc bởi một nỗi khao khát bất chợt, không thể giải thích được, anh đã đi theo họ. Sau khi kính lễ Đức Phật và lắng nghe giáo pháp, chàng trai tin chắc rằng cuộc sống của người tại gia là một mớ bòng bong của dục vọng. Anh muốn xuất gia ngay lập tức, nhưng được nhắc nhở nhẹ nhàng rằng một người con trai trước hết phải được sự đồng ý của cha mẹ. Phải mất một tuần nhịn ăn kiên quyết và những lời cầu xin đầy nước mắt, cuối cùng cha mẹ anh mới chịu nhượng bộ, cho phép anh xuất gia.
Trong năm năm, vị sư trẻ đã nỗ lực hết mình, thông thạo kinh điển và được các đồng môn kính trọng. Tuy nhiên, lo sợ những cám dỗ của tu viện lớn, cuối cùng anh đã tìm đến cuộc sống ẩn dật. Anh lui về một khu rừng hẻo lánh gần một ngôi làng biên giới, nơi anh đã khổ luyện thiền định suốt mười hai năm dài. Tuy nhiên, bất chấp sự kỷ luật kiên định của mình, sự đột phá về giác ngộ tâm linh vẫn nằm ngoài tầm với.
Mà anh không hề hay biết, sự ra đi của anh đã gây ra sự suy tàn dần dần trong gia sản của cha mẹ. Không có con trai để bảo vệ lợi ích của họ, những người thuê nhà và người làm công không trung thực đã cướp bóc tài sản của họ. Người hầu bỏ trốn cùng với vàng bạc, và ngay cả ngôi nhà của gia đình cuối cùng cũng bị bán để trả nợ. Vị thương gia từng quyền lực và vợ ông đã rơi vào cảnh nghèo khổ cùng cực, lang thang trên đường phố trong những bộ quần áo rách rưới, xin ăn những mẩu thức ăn thừa bằng những mảnh bát vỡ trong tay.
Tin tức cuối cùng cũng đến tai vị sư thông qua một vị sư huynh từ Savatthi. Khi nghe tin về sự suy sụp của cha mẹ, vị sư bị choáng váng bởi nỗi đau buồn sâu sắc đến nỗi không thể giữ được bình tĩnh. Anh kết luận rằng những nỗ lực tu hành của mình đã thất bại vì sự bất tài của chính mình và nhiệm vụ thực sự của anh là trở về thế gian để cứu những người đã sinh ra mình. Anh rời bỏ tịnh thất trong rừng và lên đường đến Savatthi, với ý định hoàn tục và sống như một người tại gia.
Khi đến vùng ngoại ô thành phố, anh phải đối mặt với một sự lựa chọn: gặp cha mẹ hay đến thăm Đức Phật trước. Quyết định rằng có lẽ anh sẽ không bao giờ có cơ hội gặp lại Đức Phật nữa, anh đã hướng về Jetavana. Ngay ngày hôm đó, Đức Phật, nhận thấy sự xáo trộn nội tâm của vị sư, đã thuyết giảng một bài pháp về những đức tính cao quý của việc hiếu thảo với cha mẹ. Ngồi ở phía sau hội chúng, vị sư nhận ra rằng mình không cần phải từ bỏ lời thề nguyện để làm tròn bổn phận. Ông hiểu rằng ngay cả khi là một tu sĩ, ông vẫn có thể chăm sóc cho cha mẹ mình.
Sáng hôm sau, ông tìm thấy cha mẹ mình đang ngồi co ro bên một bức tường, không được hàng xóm nhận ra. Lúc đầu, họ không nhận ra ông, chỉ nghĩ ông là một vị sư khác đang đi khất thực. Khi cuối cùng họ nhận ra nhau, cả gia đình ôm nhau khóc nức nở. Từ ngày đó trở đi, vị sư tận tâm chăm sóc cha mẹ mình. Ông dành những thứ tốt nhất trong số những vật phẩm cúng dường mà mình nhận được cho cha mẹ, mặc những mảnh vải cũ rách của họ làm y phục, và thường xuyên nhịn đói để đảm bảo cha mẹ được ăn no.
Qua nhiều tuần, vị sư trở nên gầy gò và xanh xao. Khi các vị sư khác phát hiện ra ông đang "lãng phí" những vật phẩm cúng dường của tín đồ cho người thế tục, họ đã báo cáo với Đức Phật, tin rằng ông đã vi phạm giới luật tu viện. Tuy nhiên, khi Đức Phật gọi ông đến, Ngài không trách mắng ông. Thay vào đó, Đức Phật đã khen ngợi vị sư ba lần, tuyên bố rằng ông đang đi theo con đường từ bi mà chính Đức Phật cũng đã đi trong nhiều kiếp trước. Để giải tỏa những nghi ngờ của hội chúng, Đức Phật bắt đầu kể lại một câu chuyện cổ xưa về thời điểm mà chính Ngài cũng đã hy sinh tất cả vì cha mẹ mình.
Trong quá khứ xa xưa, gần bờ sông Hằng, hai tù trưởng săn bắn có một tình bạn sâu sắc đến nỗi họ đã hứa gả con cái của mình cho nhau. Cuối cùng, mỗi người đều sinh ra một đứa con có vẻ đẹp phi thường và làn da vàng óng: một người con trai tên là Dukulaka và một người con gái tên là Parika. Mặc dù sinh ra trong một nền văn hóa săn bắn, cả hai đứa trẻ đều sở hữu tâm hồn trong sáng như pha lê, vì chúng vừa giáng trần từ cõi trời Brahma cao thượng. Khi đến tuổi kết hôn, cả hai đều từ chối cuộc sống gia đình, thích con đường tu hành hơn. Mặc dù cha mẹ phản đối, họ vẫn kết hôn, nhưng cặp đôi sống với nhau trong sự trinh tiết hoàn hảo, từ chối làm hại bất kỳ sinh vật nào hoặc tham gia vào việc buôn bán của làng.
Cuối cùng, với sự chúc phúc của cha mẹ, họ từ bỏ cuộc sống trần tục, khoác lên mình chiếc áo choàng màu cam của những người tu khổ hạnh và lang thang vào tận sâu trong dãy Himalaya. Lòng sùng đạo của họ sâu sắc đến nỗi đã làm rung chuyển ngai vàng của Sakka, vua của các vị thần. Nhận thấy sự xuất hiện của họ, Sakka ra lệnh cho kiến trúc sư trên trời của mình, Vissakamma, xây dựng một am thất cho họ gần sông Migasammata. Ở đó, trong một khu rừng mà ngay cả những con thú hoang dã cũng trở nên hiền lành dưới ảnh hưởng của lòng từ bi của họ, cặp đôi sống trong sự thiền định tĩnh lặng, được nuôi dưỡng bằng trái cây rừng và ân sủng của trời đất.
Sakka, tiên đoán được tương lai khi cặp đôi sẽ bị mù và không có ai chăm sóc, đã can thiệp. Ông hiện ra trước Dukulaka và thúc giục ông sinh con trai. Khi người tu khổ hạnh ban đầu từ chối vì lòng trung thành với lời thề của mình, Sakka đề nghị một con đường trung dung: vào thời điểm thích hợp, Dukulaka chỉ cần chạm vào rốn của Parika. Thông qua hành động mang ý nghĩa thiêng liêng này, Bồ Tát đã giáng trần từ cõi trời và được thụ thai. Mười tháng sau, một cậu bé ra đời, tỏa sáng như vàng ròng, và họ đặt tên cho cậu là Suvanna Sama. Khu rừng dường như cũng chào đón đứa trẻ; trong khi cha mẹ cậu đi hái trái cây, các tiên nữ núi sẽ bế cậu, tắm cho cậu trong những hang động mát mẻ và trang điểm tóc cậu bằng những bông hoa dại.
Khi Sama lớn lên thành một chàng trai mười sáu tuổi, cậu trở thành linh hồn của am thất, chăm sóc cha mẹ mình với lòng hiếu thảo bẩm sinh. Một buổi tối, một cơn bão bất ngờ đã khiến Dukulaka và Parika mắc kẹt dưới rễ cây. Họ vô tình đứng trên một tổ kiến có một con rắn độc sinh sống. Bị kích động bởi mùi mồ hôi và hơi ẩm của cơn mưa, con rắn phun ra một luồng hơi độc khiến cả hai người mù lòa ngay lập tức. Tai họa này là kết quả của nghiệp báo xấu từ kiếp trước, khi hai người là một thầy thuốc và vợ ông ta, vì tức giận mà đã làm mù một bệnh nhân từ chối trả tiền công.
Khi Sama tìm thấy cha mẹ mình đang loạng choạng và mù lòa trong rừng, trái tim cậu tan nát vì đau khổ, nhưng đồng thời cậu cũng cảm thấy một niềm vui và mục đích sống mãnh liệt. Cậu an ủi họ, hứa rằng sẽ là đôi mắt và đôi tay của họ cho đến hết cuộc đời. Cậu dẫn họ trở về am thất và sắp xếp lại không gian sống một cách tỉ mỉ. Cậu buộc một mạng lưới dây thừng giữa các túp lều, lối đi và các phòng để họ có thể di chuyển bằng cách sờ mó.
Mỗi ngày sau đó, Sama thức dậy lúc bình minh để quét dọn nhà cửa, lấy nước từ sông và chuẩn bị bữa ăn bằng những loại trái cây rừng ngọt ngào. Sau khi chăm sóc mọi nhu cầu của cha mẹ, cậu sẽ đi vào rừng sâu, cùng với một đàn hươu hoang trung thành đi theo cậu như những người bạn. Cậu trở về vào buổi tối với thức ăn tươi, đun nước tắm cho cha mẹ và xoa bóp những chi thể mệt mỏi của họ bên bếp lửa than ấm áp. Trong chốn thanh tịnh hẻo lánh của dãy Himalaya, chàng trai trẻ sống một cuộc đời hy sinh cao cả, tìm thấy sự mãn nguyện của chính mình trong sự phục vụ thầm lặng và không mệt mỏi dành cho cha mẹ.
Trong khi chàng trai trẻ Sama sống cuộc đời tận hiến thầm lặng trong rừng, một người đàn ông khác lại đến dãy Himalaya. Vua Piliyakkha của Benares, bị ám ảnh bởi niềm đam mê săn bắn không ngừng nghỉ, đã giao lại vương quốc cho mẹ mình để theo đuổi thú săn ở vùng núi cao. Trang bị cung tên mạnh mẽ và mũi tên tẩm độc, cuối cùng ông cũng đến được bờ sông Migasammata. Quan sát thấy nhiều dấu chân hươu nai bên bờ sông, ông dựng một chòi ẩn nấp bằng cành cây và nằm chờ, cung tên đã giương sẵn.
Khi hoàng hôn buông xuống, Sama hoàn thành công việc của mình và chuẩn bị đi lấy nước cho cha mẹ tắm buổi tối. Được đi cùng bầy hươu trung thành, cậu đi đến bờ sông với một chiếc bình lớn. Hai con hươu đi bên cạnh, cho phép cậu đặt trọng lượng của chiếc bình lên lưng chúng. Nhà vua, quan sát từ chỗ ẩn nấp, vô cùng kinh ngạc. Ông chưa từng thấy một sinh vật nào như vậy – da vàng óng và được bao quanh bởi những con vật hoang dã – và tự hỏi liệu mình đang nhìn thấy một vị thần rừng hay một linh hồn rắn. Sợ rằng sinh vật đó sẽ biến mất nếu bị tiếp cận, và muốn có một câu chuyện để kể cho các vị quan lại ở Benares, nhà vua quyết định làm bị thương và vô hiệu hóa chàng trai trẻ để có thể bắt giữ và thẩm vấn cậu.
Sama bước xuống nước với vẻ duyên dáng của một người tu hành lão luyện, múc nước vào bình với một sự bình tĩnh tuyệt đối. Ngay lúc đó, nhà vua bắn một mũi tên tẩm độc. Mũi tên xuyên qua sườn phải của Sama và xuyên sang bên trái. Khi bầy hươu sợ hãi chạy vào rừng, Sama không hề kêu lên vì giận dữ. Thay vào đó, cậu cẩn thận giữ thăng bằng chiếc bình nước, bước ra khỏi sông và nằm xuống trên cát. Cậu hướng đầu về phía túp lều của cha mẹ và nằm yên như một bức tượng vàng trên bờ sông bạc.
Máu chảy ra từ miệng, Sama nói trong im lặng, tự hỏi ai lại có lý do để làm hại một người sống trong rừng mà không hề có thù oán với bất kỳ ai. Cậu chỉ ra sự vô nghĩa của hành động đó, lưu ý rằng thịt của cậu không thích hợp cho bữa ăn của người thợ săn và da của cậu cũng không có giá trị gì. Nghe thấy giọng nói dịu dàng, du dương của nạn nhân, vua Piliyakkha bước ra khỏi bụi cây, lòng tràn đầy xấu hổ. Ông ta tự xưng là Chúa tể xứ Kasi và ban đầu nói dối, tuyên bố rằng mình đã bắn vào một con nai và vô tình bắn trúng chàng trai.
Sama nhận ra lời nói dối đó, vì chàng biết rằng không một con vật nào trong khu rừng đó lại sợ hãi bỏ chạy trước mặt chàng. Đối diện với sự ngây thơ ấy, nhà vua thú nhận lòng tham lam và sự độc ác của mình. Nhưng điều Sama lo lắng không phải là tính mạng của bản thân; khi chất độc bắt đầu ngấm vào cơ thể, tâm trí chàng hoàn toàn hướng về cha mẹ mù lòa của mình. Chàng than thở rằng họ sẽ không có thức ăn hay nước uống và sẽ chờ đợi vô vọng tiếng bước chân của chàng. Chàng nói với nhà vua rằng ý nghĩ về nỗi khổ của họ là một mũi tên thứ hai, sắc bén và đau đớn hơn cả mũi tên đang găm vào người chàng.
Bị dày vò bởi sự hối hận và sợ hãi trước hậu quả nghiệp báo của việc giết hại một người thánh thiện, vua Piliyakkha đã thề một lời thề long trọng. Ông hứa sẽ từ bỏ vương quyền, ở lại khu rừng và phục vụ cặp vợ chồng mù lòa giống như Sama đã làm, hái trái cây và lấy nước cho họ. Được an ủi bởi lời hứa này, Sama chỉ đường đến am thất, gửi lời chào kính trọng cuối cùng đến nhà vua và nhờ ông chuyển lời yêu thương của mình đến cha mẹ.
Khi chất độc ngấm đến tim, hơi thở của Sama yếu dần, tứ chi cứng lại và chàng rơi vào trạng thái bất tỉnh sâu, giống như chết. Nhà vua, nhìn thấy chàng trai trẻ tuổi có làn da vàng óng bất động và lạnh lẽo, nhận ra mức độ tội lỗi của mình. Trong sự im lặng sâu lắng của khu rừng hoang vắng, vị vua đấm ngực và khóc lớn, sợ hãi không chỉ vì địa ngục đang chờ đợi mình mà còn vì gánh nặng lương tâm không thể chịu nổi.
Trên đỉnh núi Gandhamadana cao vút, nữ thần Bahusodari, người từng là mẹ của Sama trong kiếp trước, đột nhiên cảm thấy một nỗi lo lắng của người mẹ. Nhận ra rằng "con trai" mình đang hấp hối trong khi bà đang mải mê với những thú vui trên thiên đường, bà nhìn xuống và thấy cảnh tượng bi thảm trên bờ sông. Bà hiểu rằng nếu không can thiệp, Sama sẽ chết, trái tim nhà vua sẽ tan nát vì tội lỗi, và cha mẹ mù lòa sẽ chết đói. Giáng xuống từ những đám mây, bà vẫn vô hình nhưng nói với vua Piliyakkha, giọng nói vang vọng uy quyền thần thánh. Bà cảnh báo ông về gánh nặng tinh thần nặng nề mà ông đang mang và ra lệnh cho ông phải chuộc tội bằng cách trở thành người hầu của cặp vợ chồng mù lòa mà ông đã khiến họ mất đi người con trai duy nhất.
Nhà vua, kinh hãi và khiêm nhường trước giọng nói thiêng liêng, chấp nhận hình phạt. Ông bày tỏ lòng kính trọng cuối cùng đối với hình hài vàng óng lặng lẽ của Sama, đi vòng quanh thi thể với lòng thành kính và rắc nước cùng hoa lên đó. Với trái tim nặng trĩu, ông vác chiếc bình nước – gánh nặng cuối cùng mà Sama đã mang – và đi theo con đường rừng đến túp lều.
Khi nhà vua đến túp lều, người hiền triết Dukula nghe thấy nhịp bước chân lạ. Ông ngay lập tức cảm nhận được rằng người đang đến không phải là con trai mình. Để ngăn chặn sự hiểu lầm có thể dẫn đến bạo lực hơn nữa, nhà vua đặt bình nước xuống và tự giới thiệu mình là Chúa tể của Kasi. Mặc dù bất ngờ trước sự xuất hiện của một vị khách hoàng gia, Dukula vẫn tiếp đón ông với lòng hiếu khách của người sống trong rừng, mời ông ăn trái cây rừng và uống nước suối mát lạnh. Khi nhà vua hỏi làm thế nào một người mù có thể thu thập được nhiều loại thức ăn như vậy, người cha nói với niềm tự hào rạng rỡ về con trai mình, Sama, mô tả vẻ đẹp và lòng hiếu thảo của cậu, và nói rằng cậu chắc chắn sẽ trở về từ bờ sông bất cứ lúc nào.
Nhà vua không thể giữ được vẻ giả vờ nữa. Ông thú nhận rằng người con trai mà họ mô tả đang nằm trên bờ sông, mái tóc đen nhánh đẫm máu. Nghe thấy giọng nói của nhà vua, Parika bước ra khỏi túp lều, được dẫn đường bằng một sợi dây. Nỗi đau khổ của bà như một cú sốc mạnh, và bản năng đầu tiên của bà là nguyền rủa người đàn ông đã cướp đi chỗ dựa duy nhất trong cuộc đời bà. Tuy nhiên, Dukula, với sự kiên định trong kỷ luật khổ hạnh của mình, nhắc nhở bà rằng người khôn ngoan không nên nuôi dưỡng sự giận dữ.
Trong một biểu hiện của lòng khoan dung tinh thần sâu sắc, cha mẹ không hề tấn công nhà vua. Cảm động trước sự hiền lành không chút ác ý của họ, vua Piliyakkha quỳ xuống trước mặt họ và hứa sẽ làm mắt và tay cho họ, thu thập thức ăn và phục vụ như "người hầu trong nhà" của họ. Nhưng cha mẹ không cần bất kỳ sự phục vụ nào; họ chỉ yêu cầu nhà vua đặt một cây gậy vào tay họ và dẫn họ đến thi thể con trai để họ có thể chạm vào mặt con lần cuối.
Nhà vua do dự, sợ rằng cảnh tượng xác chết đẫm máu – dù chỉ cảm nhận bằng xúc giác – sẽ khiến họ chết vì đau buồn. Ông mô tả khu vực đó là một vùng hoang dã nguy hiểm, nơi chàng trai trẻ vàng rực nằm đó như một mặt trời đã lặn. Tuy nhiên, cha mẹ không hề sợ hãi, tuyên bố rằng những con thú hoang trong rừng chưa bao giờ là kẻ thù của họ. Chiều theo sự kiên trì của họ, nhà vua nắm tay họ và dẫn họ đi xuyên qua khu rừng đang tối dần. Khi đến bờ sông, ông đặt họ bên cạnh thi thể. Ở đó, người cha ôm đầu Sama và người mẹ ôm lấy chân con, tiếng than khóc của họ vang vọng khắp khu rừng khi mặt trời lặn xuống phía chân trời.
Khi cha mẹ khóc thương bên thi thể bất động của con trai, nỗi đau của họ vang vọng một cách trống rỗng trong màn đêm vùng Himalaya. Họ chạm vào làn da lạnh lẽng của con, tự hỏi liệu con chỉ đang ngủ hay có điều gì đó đã khiến con im lặng mãi mãi. Họ tự hỏi ai sẽ chăm sóc tóc cho họ, quét dọn nhà cửa hay mang đến cho họ những loại trái cây rừng nuôi sống cuộc sống của họ.
Tuy nhiên, người mẹ cảm nhận được một tia hy vọng le lói. Nhận ra rằng chất độc đã gây ra một cơn hôn mê sâu chứ không phải cái chết vĩnh viễn, bà quyết định thực hiện một "Lời khẳng định sự thật"—một hành động tâm linh mà sức mạnh tuyệt đối của đức hạnh trong quá khứ được sử dụng để chi phối thực tại. Bà tuyên bố rằng nếu đúng là Sama đã sống một cuộc đời đức hạnh hoàn hảo và phụng dưỡng cha mẹ với lòng hiếu thảo không lay chuyển, thì chất độc trong mạch máu của con phải mất đi sức mạnh. Ngay khi bà nói xong, Sama cựa quậy. Người cha cũng đưa ra lời tuyên bố tương tự, giọng run run đầy tin tưởng, và Sama xoay người sang bên kia.
Cuối cùng, nữ thần Bahusodari, đang quan sát từ đỉnh núi, đã thêm lời chứng thực thiêng liêng của mình. Bà tuyên bố rằng nếu Sama thực sự là người được yêu quý nhất trong trái tim bà, thì cậu phải được hồi sinh. Nhờ sức mạnh kết hợp của ba lời khẳng định sự thật này, một phép màu kỳ diệu đã xảy ra: chất độc biến mất khỏi cơ thể Sama, mắt cha mẹ cậu bỗng nhiên được mở ra trước ánh sáng, chàng trai trẻ bật dậy với sức khỏe hoàn hảo, và những tia nắng bình minh đầu tiên ló dạng trên đường chân trời.
Tu viện tràn ngập niềm vui sâu sắc đến nỗi ngay cả vua Piliyakkha cũng đứng sững sờ kinh ngạc. Thấy sự bối rối của nhà vua, Sama giải thích rằng cậu không phải trở về từ cõi chết, mà chỉ bị hôn mê sâu do chất độc. Cậu đã dùng phép màu này để dạy cho nhà vua một bài học sâu sắc, giải thích rằng những người sống theo Dhamma và chăm sóc cha mẹ sẽ được các vị thần bảo vệ trong kiếp này và được chào đón vào thiên đàng trong kiếp sau.
Khiêm nhường và tìm kiếm một con đường mới, nhà vua đã hỏi Sama để được hướng dẫn. Vị Đại Bồ Tát sau đó đã phác thảo mười bổn phận của nhà vua, hướng dẫn nhà vua mở rộng lòng từ bi không chỉ đối với cha mẹ mà còn đối với gia đình, các quan lại, thần dân và thậm chí cả chim muông thú rừng. Ngài dạy rằng bổn phận là con đường cao cả nhất, con đường mà các vị vua của các vị thần cũng đã đi theo. Vua Piliyakkha trở về Benares với một con người hoàn toàn khác, cai trị bằng lòng hào phóng và đức hạnh đến nỗi cuối cùng ông và toàn bộ triều đình đều được thăng lên cõi trời. Sama và cha mẹ tiếp tục cuộc sống khổ hạnh, cuối cùng đạt đến cõi trời Brahma cao thượng nhờ công đức tu hành của họ. Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Phật tiết lộ với các vị sư đang lắng nghe rằng người con trai hiếu thảo đó không ai khác chính là Ngài trong kiếp trước, và cha mẹ chính là những thành viên trong gia đình Ngài được tái sinh, minh chứng rằng việc chăm sóc cha mẹ là một truyền thống thiêng liêng và bất diệt của những người trí tuệ.
.... o ....
J540. Sama Jātaka -- The story of a monk who supports his parents.
Summary: One monk supports his parents, who have fallen into poverty and have no one else at home to care for them. The Buddha tells a story about a boy born to two ascetics, who cared for them after they were blinded by a snake. A king, while out hunting, kills the boy but offers to take over his duties. Eventually, the boy is brought back to life, and the parents also regain their sight.
.
In the city of Savatthi, there lived a merchant of immense wealth whose life centered around his only son, a young man of winning character and deep devotion. One afternoon, while looking out from the terrace of his palatial home, the youth observed a vast, serene crowd carrying garlands and perfumes toward the Jetavana monastery. Stirred by a sudden, inexplicable longing, he followed them. After honoring the Buddha and listening to the Dhamma, the youth became convinced that the householder’s life was a thicket of desire. He sought immediate ordination, but was gently reminded that a son must first gain his parents’ consent. It took a week of resolute fasting and tearful persistence before his grieving parents finally relented, allowing him to enter the monkhood.
For five years, the young monk applied himself with brilliance, mastering the scriptures and earning the respect of his peers. However, fearing the distractions of the great monastery, he eventually sought a life of solitude. He retreated to a remote forest near a frontier village, where for twelve long years he labored in meditation. Yet, despite his unwavering discipline, the breakthrough of spiritual insight remained out of reach.
Unbeknownst to him, his departure had triggered a slow decay in his parents' fortunes. Without a son to protect their interests, dishonest tenants and laborers plundered their wealth. Servants fled with the gold, and even the family home was eventually sold to cover debts. The once-mighty merchant and his wife were reduced to the lowest depths of poverty, wandering the streets in rags, begging for scraps of food with cracked potsherds in their hands.
The news finally reached the monk through a traveling brother from Savatthi. Upon hearing of his parents' ruin, the monk was overcome with a grief so profound he could no longer maintain his composure. He concluded that his spiritual efforts had failed because of his own incompetence and that his true duty was to return to the world to save those who had given him life. He abandoned his forest cell and journeyed toward Savatthi, intending to disrobe and live as a householder.
Upon arriving at the outskirts of the city, he faced a choice: to see his parents or to visit the Buddha first. Deciding that he might never again have the chance to see the Awakened One, he turned toward the Jetavana. That very day, the Buddha, perceiving the monk's inner turmoil, preached a sermon on the supreme virtues of honoring one's parents. Listening from the back of the assembly, the monk realized he did not need to abandon his vows to fulfill his duty. He understood that even as an ascetic, he could provide for them.
The following morning, he found his parents huddled against a wall, unrecognized by the neighbors. They did not know him at first, dismissing him as just another monk seeking alms. When the recognition finally came, the family collapsed into a tearful embrace. From that day on, the monk dedicated himself to their care. He gave them the best of his gathered alms, wore their discarded rags as his robes, and often went hungry himself to ensure they were fed.
As the weeks passed, the monk grew gaunt and pale. When his fellow monks discovered he was "wasting" the offerings of the faithful on laypeople, they reported him to the Buddha, believing he had violated the monastic code. However, when the Buddha called him forward, He did not scold him. Instead, the Teacher praised the monk three times, declaring that he was following a path of compassion that the Buddha Himself had walked in many previous lives. To settle the doubts of the assembly, the Buddha began to recount an ancient story of a time when he, too, had sacrificed everything for his parents.
In the distant past, near the banks of the Ganges, two hunter chiefs shared a friendship so deep they pledged their future children to one another. Each eventually welcomed a child of extraordinary beauty and golden complexion: a son named Dukulaka and a daughter named Parika. Though born into a culture of hunting, both children possessed souls of crystalline purity, having recently descended from the high Brahma realms. When they reached the age of marriage, both recoiled from the idea of domestic life, preferring the path of spiritual renunciation. Despite their protests, their parents wed them, yet the couple lived together in perfect chastity, refusing to harm any living thing or engage in the trade of their village.
Eventually, with their parents' blessing, they traded their worldly lives for the orange bark robes of ascetics and wandered into the heart of the Himalayas. Their devotion was so profound that it moved the throne of Sakka, the king of the gods. Sensing their arrival, Sakka commanded his celestial architect, Vissakamma, to build a hermitage for them near the Migasammata River. There, in a forest where even the wild beasts became gentle under the influence of their loving-kindness, the couple lived in quiet meditation, sustained by forest fruits and the grace of the heavens.
Sakka, foreseeing a future where the couple would lose their sight and have no one to care for them, intervened. He appeared to Dukulaka and urged him to father a son. When the ascetic initially refused out of devotion to his vows, Sakka suggested a middle path: at the proper time, Dukulaka should simply touch Parika’s navel. Through this act of divine intention, the Bodhisatta descended from the heavenly realm and was conceived. Ten months later, a son was born, glowing like burnished gold, and they named him Suvanna Sama. The forest itself seemed to embrace the child; while his parents gathered fruit, mountain nymphs would cradle him, washing him in cool caves and adorning his hair with wildflowers.
As Sama grew into a youth of sixteen, he became the soul of the hermitage, watching over his parents with intuitive devotion. One evening, a sudden storm trapped Dukulaka and Parika beneath the roots of a tree. They inadvertently stood upon an ant-hill inhabited by a venomous snake. Agitated by the scent of their sweat and the moisture of the rain, the serpent exhaled a cloud of poisonous breath that instantly blinded them both. This misfortune was the ripening of a dark karma from a past life when the two had been a physician and his wife who, in a fit of spite, had blinded a patient who refused to pay his fee.
When Sama found his parents stumbling and sightless in the forest, his heart broke with sorrow, yet he also felt a surge of joyful purpose. He comforted them, promising that he would be their eyes and their hands for the rest of their lives. He led them back to the hermitage and meticulously organized their living space. He tied a network of ropes between the huts, the walking paths, and the rooms so that they could navigate their world by touch.
Every day thereafter, Sama rose at dawn to sweep their floors, fetch water from the river, and prepare their meals of sweet forest fruits. After seeing to their every need, he would go into the deep woods, accompanied by a loyal troop of wild deer that followed him like friends. He would return in the evening with fresh food, heat water for their baths, and massage their tired limbs by the warmth of a charcoal fire. In this secluded sanctuary of the Himalayas, the young man lived a life of ultimate sacrifice, finding his own fulfillment in the silent, tireless service of his parents.
While the young Sama lived his life of quiet devotion in the forest, a different sort of man arrived in the Himalayas. King Piliyakkha of Benares, consumed by a restless passion for the hunt, had left his kingdom in his mother’s hands to pursue venison in the high mountains. Armed with a powerful bow and poisoned arrows, he eventually reached the banks of the Migasammata. Observing the many deer tracks at the water's edge, he built a camouflaged blind of branches and lay in wait, his bow strung and ready.
As evening approached, Sama finished his chores and prepared to fetch water for his parents’ evening bath. Accompanied by his loyal herd of deer, he walked to the river with a large jar. Two of the deer walked beside him, allowing him to rest the weight of the jar upon their backs. The king, watching from his hiding place, was struck with wonder. He had never seen such a creature—golden-skinned and surrounded by wild animals—and wondered if he was seeing a forest deity or a serpent-spirit. Fearful that the being might vanish if approached, and wanting a story to tell his ministers back in Benares, the king decided to wound and disable the youth so he could capture and question him.
Sama entered the water with the grace of a practiced ascetic, filling his jar with a sense of perfect calm. At that moment, the king loosed a poisoned arrow. The shaft pierced Sama’s right side and passed through to the left. As the terrified deer fled into the woods, Sama did not cry out in anger. Instead, he carefully balanced the water jar, waded out of the river, and laid himself down on the sand. He oriented his head toward his parents' hut and composed his body like a golden statue on the silver riverbank.
With blood pouring from his mouth, Sama spoke into the silence, wondering aloud who could have a reason to harm a forest dweller who held no enmity toward anyone. He pointed out the senselessness of the act, noting that his flesh was not fit for a hunter’s meal and his skin had no value. Hearing the gentle, melodious voice of his victim, King Piliyakkha emerged from the brush, overcome with shame. He identified himself as the Lord of Kasi and at first lied, claiming he had shot at a deer and hit the youth by mistake.
Sama saw through the lie, noting that no animal in that forest had ever fled from him in fear. Confronted by such innocence, the king confessed his greed and malice. But Sama’s concern was not for his own life; as the poison began to take hold, his thoughts turned entirely to his blind parents. He lamented that they would have no food or water and that they would wait in vain for the sound of his footsteps. He told the king that the thought of their suffering was a second arrow, sharper and more painful than the one in his side.
Stung by remorse and fearing the karmic weight of murdering a saintly being, King Piliyakkha made a solemn vow. He promised to cast aside his royalty, stay in the forest, and serve the blind couple just as Sama had done, gathering their fruit and fetching their water. Relieved by this promise, Sama pointed out the path to the hermitage, offered a final respectful greeting to the king, and asked that his love be conveyed to his parents.
As the poison reached his heart, Sama’s breath failed, his limbs stiffened, and he fell into a deep, death-like unconsciousness. The king, seeing the golden youth go still and cold, realized the magnitude of his crime. In the profound silence of the unpeopled woods, the monarch beat his breast and wept aloud, terrified not only of the hell that awaited him but of the unbearable weight of his own conscience.
High above on the Gandhamadana mountain, a goddess named Bahusodari, who had been Sama’s mother in a previous life, suddenly felt a pang of maternal anxiety. Realizing that her "son" lay dying while she was distracted by heavenly pleasures, she looked down and saw the tragic scene on the riverbank. She understood that if she did not intervene, Sama would perish, the king’s heart would shatter from guilt, and the blind parents would starve. Descending through the clouds, she remained invisible but spoke to King Piliyakkha, her voice echoing with divine authority. She warned him of the heavy spiritual burden he now carried and commanded him to seek redemption by becoming the servant of the blind couple he had orphaned.
The king, terrified and humbled by the celestial voice, accepted his penance. He paid his final respects to Sama’s silent, golden form, circling the body with reverence and sprinkling it with water and flowers. With a heavy heart, he shouldered the water jar—the last burden Sama had carried—and navigated the forest path toward the hermitage.
When the king reached the hut, the wise Dukula heard the unfamiliar rhythm of the footsteps. He immediately sensed that the person approaching was not his son. To prevent a misunderstanding that might lead to further violence, the king set down the water jar and identified himself as the Lord of Kasi. Despite the shock of a royal visitor, Dukula received him with the hospitality of the woods, offering him wild fruits and cool cave water. When the king asked how a blind man could gather such a variety of food, the father spoke with glowing pride of his son, Sama, describing his beauty and his devotion, and noting that he would surely return from the river any moment.
The king could no longer maintain the pretense. He confessed that the son they described was lying on the riverbank, his black curls drenched in blood. Hearing the king’s voice, Parika emerged from her hut, guided by a rope. Her grief was a physical blow, and her first instinct was to curse the man who had stolen her life’s sole support. Yet Dukula, anchored in his ascetic discipline, reminded her that the wise do not harbor wrath.
In a display of profound spiritual grace, the parents did not strike out at the king. Touched by their lack of malice, King Piliyakkha knelt before them and pledged to be their eyes and hands, gathering their food and serving as their "household slave." But the parents desired no service; they asked only for the king to place a staff in their hands and lead them to their son’s body so they might touch his face one last time.
The king hesitated, fearing that the sight of the bloody corpse—even if only perceived through touch—would kill them with sorrow. He described the area as a dangerous wilderness where the golden youth lay like a fallen sun. The parents, however, were fearless, declaring that the wild beasts of the forest had never been their enemies. Yielding to their persistence, the king took them by the hand and led them through the darkening woods. When they reached the riverbank, he placed them beside the body. There, the father cradled Sama’s head and the mother embraced his feet, their lamentations filling the forest as the sun dipped below the horizon.
As the parents wept over the unmoving body of their son, their grief was a hollow, echoing sound in the Himalayan dusk. They touched his cold skin, asking if he was merely asleep or if some grievance had caused him to fall silent. They wondered who would now tend their hair, sweep their floors, or bring them the forest fruits that sustained their lives.
The mother, however, sensed a flickering hope. Recognizing that the poison had caused a deep swoon rather than final death, she resolved to perform an "Assertion of Truth"—a spiritual act where the sheer force of past virtue is used to command reality. She declared that if it were true that Sama had lived a life of perfect virtue and had served his parents with unwavering devotion, then the poison in his veins must lose its power. At her words, Sama stirred. The father then made the same declaration, his voice trembling with conviction, and Sama turned onto his other side.
Finally, the goddess Bahusodari, watching from her mountain peak, added her divine testimony. She proclaimed that if Sama was indeed the most beloved being in her heart, he must be restored. Through the combined power of these three truths, a fourfold miracle occurred: the poison vanished from Sama’s body, his parents’ eyes were suddenly opened to the light, the youth sprang up in perfect health, and the first rays of dawn broke over the horizon.
The hermitage was filled with a joy so profound that even King Piliyakkha stood paralyzed in amazement. Seeing the king’s confusion, Sama explained that he had not returned from the dead, but had been suspended in a deep trance by the venom. He used the miracle to teach the monarch a lasting lesson, explaining that those who live according to Dhamma and care for their parents are protected by the gods in this life and welcomed into heaven in the next.
Humbled and seeking a new path, the king asked Sama for guidance. The Great Being then outlined the ten royal duties, instructing the king to extend his compassion not only to his parents but to his family, his ministers, his subjects, and even the birds and beasts of the forest. He taught that duty is the highest path, the same path followed by the kings of the gods.
King Piliyakkha returned to Benares a transformed man, ruling with such generosity and virtue that he and his entire court eventually ascended to the heavenly realms. Sama and his parents continued their ascetic lives, eventually attaining the high Brahma realms through their spiritual merits. Having finished the story, the Buddha revealed to the listening monks that the devoted son was none other than himself in a former birth, and the parents were his own family members reborn, illustrating that the care of one’s parents is a timeless and sacred tradition of the wise.
.... o ....
.
.


