Hôm nay,  

Thưa bà Marie Curie, bà ở đâu?

18/04/202313:41:00(Xem: 3336)
Tạp bút

1024px-Pierre_and_Marie_Curie
Pierre & Marie Curie trong phòng thí nghiệm.

Bà luôn ở cùng chúng ta, vì trong đời sống này có ai mà không một lần đi chụp quang tuyến X? Đi chữa một cái răng đau, nhổ răng khôn. Đi chụp phổi, đi soi bao tử fribroscopie, hay đơn giản nhất là té ngã, cũng phải đi cà nhắc tới imagerie médicale rọi tia X-quang xem xương bị tổn thương ra làm sao. Đơn giản mà là vậy, bác sĩ đâu có chữa bệnh lơ mơ, phải thấy rõ, thì đó là chúng ta sống và nhiều lúc phải nương tựa vào những tìm kiếm và phát minh của bà, không có bài bản chụp quang tuyến cuộc đời gắn liền với bệnh e gặp nhiều khó khăn.
     Ở nước Ba Lan, quê hương hào hiệp, nơi sinh ra nhà bác học vĩ đại Marie Curie, người đã mang, đã tìm thấy và ứng dụng Uranium vào kỹ nghệ khoa học, để tìm bệnh và chữa bệnh cho nhân loại. Radium hôm nay rất thịnh hành ở khắp mọi nơi. Suốt cuộc đời bà, bà đã bỏ ra nhiều năm ròng rã nung quặng. Bà đi tiếp theo công trình nghiên cứu của hai nhà vật lý học, một người Pháp là giáo sư Henri Becquerel, một người Đức là giáo sư Rontgen, hai vị đưa ra đề tài về « tia phóng xạ và năng lượng của phóng xạ. » Bà giầu nghị lực bắt tay vào việc tìm kiếm, nhìn thấy và sử dụng Uranium.
     Suốt 4 năm ròng rã nung chẩy các quặng hóa học nghi là có chất phóng xạ, bà có lần khoe với chồng: Em đang tìm nó, chưa tìm ra nó, và em đã đặt cho nó, và em đã đặt cho các chất có thể tự phát ra tia phóng xạ có cường độ như nhau là năng lượng phóng xạ.
     Đúng vậy sau mấy năm ròng rã nung nấu quặng Uranium để tìm ra phóng xạ mạnh hơn là Uranium thuần chất. Tháng 7 năm 1898, bà tìm ra nguyên tố mới Uranium, với lòng gắn bó yêu quê hương, bà gọi nó là Polorium, mạnh hơn Uranium. Tháng 12 năm 1898, bà tìm thấy Radium mạnh gấp 100 lần Polraium.
     Tháng 6 năm 1903 bà trình luận án đặc biệt tiến sĩ xuất sắc về tính năng của phóng xạ. Bà Marie Curie cần cù suốt đời, vừa tìm kiếm khoa học, vừa lo cho gia đình con cái, vừa dậy học… Bà làm rất nhiều việc lợi ích cho đời. Bà có một hình ảnh đẹp, đẹp rực rỡ của tuổi thơ là cái nổi trội gắn bó với quê hương chôn nhau cắt rốn Ba Lan, vừa cũng cho chúng ta hiểu tại sao.
     Tại sao ngày nay người xứ sở Ba Lan tích cực giúp đỡ, đóng góp ân tình với đồng minh Ukraine chống lại bạo lực của Nga. Vì cả hai nước đó có chung một kẻ thù Moscou từ rất xa xưa. Thù lắm! Trở lại, lại nói về Marie Curie, bà ra đời tháng 11 năm 1867, ở thủ đô Varsava trong một gia đình trung lưu, hơi hạn hẹp vì cha mẹ đều đi dậy học. Quê hương Ba Lan của bà lúc ấy đang bị nước Nga đô hộ, các trường học Ba Lan bị Nga kiềm tỏa, đồng hóa, bị bắt buộc họ phải học và dậy học bằng tiếng Nga. Sau đệ I thế chiến, tới năm 1918, đất đai lãnh thổ Âu Châu được chia lại, Ba Lan mới thoát khỏi sự cai trị của Nga hoàng. Ngày đó, các nhân vật Nga sang cai trị thuộc địa, hay các nhân vật Ba Lan làm tay sai cho chính phủ Nga đều phải gọi kính cẩn như thế đó: Bệ Hạ!
     Các em học sinh tiểu học và các cấp khác, đặc biệt trường tiểu học của các em vào lớp tuổi Manie (tên thời thơ ấu của bà Marie Curie) đều phải học thuộc lòng lịch sử của Moscou. Các em phải trả lời lưu loát khi có thanh tra người Nga tới thăm và tra vấn về sử học, như phải kể đủ tên thứ tự các vị vua.
     Mania nhanh nhẹn kể: “Catherine II, Paul I, Alexander I, Nicolas I, Alexander II”. Cô giáo và cô hiệu trưởng đổ mồ hôi hột khi Manie bị tra vấn. Nghe xong học sinh bé bỏng của mình trả lời lưu loát, cả hai cô đều thở phào nhẹ nhõm, họ vừa thương hại vừa cám ơn Manie. Tất cả họ vừa thoát một lần bị kỷ luật.
     Nhưng cô giáo, cô hiệu trưởng, ngay cả viên thanh tra, họ nào biết một câu chuyện riêng tư của Mania và một cô bạn rất thân, ngồi cạnh và cùng lớp với Mania, tên gọi Kachia, Kachia và Mania học cùng lớp tiểu học, mỗi ngày hai cô bé ríu rít rủ nhau cùng đi học và cùng về học. Trên đường đến trường, cả hai luôn phải băng ngang một công viên rộng mát thoáng đẹp, trong lối vào cổng công viên, phía trong là một đài tưởng niệm, xây cất công phu, trên đó, người Nga ghi khắc các viên chức Nga đến đây đầu tiên, có công đặt nền tảng đô hộ, và cả tên vài ba người bản xứ phục vụ hợp tác với phía Nga, đó là những kẻ xâm chiếm và những kẻ phản quốc, Mania giải nghĩa như vậy, rõ ràng như vậy cho Kachia hiểu. Rồi mỗi buổi đi học về ngay ngang tấm bia đá kỷ niệm đó, hai cô học trò bé bỏng, lượm đầy một túi áo sỏi, dừng chân trước bức tường kỷ niệm, hai đứa lần lượt lấy sỏi trong túi chọi vào tên từng người, từng đứa, và quy định mỗi người bao năm tù. Hết túi sỏi, kết án đầy đủ mọi cái tên, hai đứa rủ nhau vui vẻ về nhà. Hôm đấy, Mania bảo Kachia là xử án tụi nó xong, mình khỏe ru hả. Chiều nay ăn xúp ngon hơn nhe!
     Có lần trời mưa sỏi ướt nhép không lượm được, thì hai đứa thi nhau nhổ bọt lên đài kỷ niệm. Một lần mưa lớn quá, vội, quên, về tới nhà Mania, thì Kachia quay đầu chạy ngược trở lại, sau đó, Mania hỏi bạn làm rơi rớt gì ư? -- Không, không rơi gì cả, mà tại hồi nãy vội quá và khô cổ quên nhổ lên tụi nó, giờ làm bù! Mania chạy đi kiếm rồi đưa nguyên một chai nước cho bạn. Hai đứa cười, nhìn nhau đồng ý, hẹn ngày mai nhé.
     Trong máu thịt, ngay thuở ấu thơ, Kachia và Mania đã hiểu sâu sắc tình yêu quê hương, yêu tổ quốc, yêu đồng bào. Với những khái niệm từ ấu thơ là thế, người dân Ba Lan mặc nhiên như có một bản năng bẩm sinh ghét, thù ghét kẻ ngoại xâm Nga Hoàng ngày xưa và bây giờ là Putin.
     Mania, lúc nhỏ được gọi ở nhà như thế vì gia đình muốn nhắc nhở khi ấu thơ, bà rất giống Đức Mẹ Maria. Gặp hoàn cảnh sa sút của gia đình, từ lúc cộng quân Nga tràn tới, cha bà bị đuổi trường đuổi dậy. Mẹ bà mất luôn chức hiệu trưởng trường nữ, gia đình họ sống rất cơ cực, mẹ sau đó bị bệnh nặng và qua đời. Bà mồ côi mẹ từ lúc mới 10 tuổi. Cảnh nghèo túng và nỗi buồn tuổi thơ hun đúc cho Mania tính chuyên cần, bền bỉ vươn lên trong việc học hành và nghiên cứu khoa học về sau. Trước mắt Mania chỉ có con đường đó thôi. Cộng với lòng ham học hỏi là lòng nhân ái và tính yêu thích tìm tòi những khám phá mới lạ. Học xong bậc trung học, thấy chị gái Blonia muốn đi học y khoa, bà đi làm gia sư kèm trẻ em ở tư gia nuôi chị học trước, bốn năm năm sau chị thành tài, bà ra khỏi quê, hướng về Paris, chủ tâm vào đại học Sorbonne học Toán và Vật lý rồi tiến vào công trình khảo sát khoa học. Bắt đầu về Sorbonne, lịch học tập của Mania dầy đặc, vừa phải học thêm Pháp văn để vượt qua ải ngoại ngữ, vừa đọc sách bù đắp lỗ hổng về tri thức, vừa phải cố gắng chuyên chú theo kịp các bài ở giảng đường.
     Mania phải vượt qua mọi khó khăn đó cho đến lúc bà cần một phòng thí nghiệm đầy đủ hơn cho riêng mình, anh chị và bạn đã giới thiệu cho bà gặp ông Pierre Curie. Họ yêu nhau trong tình yêu khám phá khoa học, và bà thành thân với ông. Bà mang tên Marie Curie từ đó. Ông Pierre đã đứng ngoài phòng thí nghiệm, theo dõi cô sinh viên Ba Lan rất khả ái, thành thạo trong mọi thao tác kỹ thuật, nàng chịu khó miệt mài, giầu sức sáng tạo. Bà kém ông 8 tuổi, bà sống chung với ông được 11 năm, thì sinh được hai cô con gái. Mặc dù sau khi sinh nở, bận nuôi con, nhưng bà vẫn chuyên cần đến phòng thí nghiệm ngồi khoắng quặng tổng hợp, dù gió rét hay tuyết rơi, bà vẫn đốt củi, hong nóng nồi gang, đổ chất hắc ín là tổng hợp kim loại có chất Uranium vào chảo. Bà nắm thanh sắt dài, cố sức khuấy đều chất tạp trong chảo, củi cháy đỏ, phải thỉnh thoảng đưa thêm than vào lò để tăng đủ độ nóng. Tạp chất từ từ chẩy nhão, rồi sôi, nổi bong bóng, bà vẫn luôn tay khuấy đều chất hồ nhão màu đen ấy lâu và lâu cho đậm đặc, dù tay bị phỏng nhiều lần, dù thay khăn lót tay nhiều lần. Đợi khi tạp chất đen đậm đặc, khói bay mù mịt làm cay mắt, bà dùng vá sắt múc chất lỏng nóng bỏng đó đổ vào từng lọ lớn, nhiều lọ, rồi bê lọ lên để trên từng cao trong phòng cho chúng lắng xuống. Tiếp đó, lại đổ lượt tạp chất, lại nấu, khuấy sôi đều cho đậm đặc, lại múc ra và bê cất lên cao. Cứ thế bà đã nấu trong 4 năm 8 tấm quặng, sau cùng tinh luyện ra được 1 décigramme Radium.
     Làm việc nặng nhọc, cơ thể đau nhức, tay bị phỏng nhiều chỗ, chân sưng phồng. Nhưng bên cạnh công việc, tối về, vẫn chăm sóc chồng, con, và may vá áo quần cho con. Phòng khách nhà bà chỉ có hai ghế ngồi. Hỏi tại sao ít ghế thế, bà bảo để cho khách đến rồi khách đi mau lẹ vì bà còn bận nung quặng. Trong khi đó, ông Pierre vẫn đi dậy học, khi có đôi chút thì giờ rảnh, ông ghé xuống giúp bà cho bà nghỉ mệt. Ông hơi buồn vì thấy bà cực nhọc, mệt mỏi, sa sút. Ông đề nghị bà nghỉ ngơi một vài ngày, hay tốt hơn là một vài tuần lễ. Bà khoát tay từ chối, có một lần, một lần duy nhất trong đời, bà gắt gỏng với ông: « Em chẳng thấy mệt mỏi gì đâu. Em không thích bỏ cuộc giữa đường. Chỉ những người chí bạc tài hèn mới làm như vậy…»
     Rồi một lần vào buổi tối, lo cho con cái ăn uống xong, sắp đi ngủ, thì bà nắm chặt tay ông nói rằng: « Anh ơi, em có cảm giác có tiếng đang gọi em ». « Cái phòng thí nghiệm nó gọi em chứ gì. » « Đúng thế, hay chúng ta trở lại đó xem sao ». « Chúng ta mới rời nơi đó khoảng 2 giờ đồng hồ, chớ có lâu lắc gì, nhưng thôi, em muốn thì chúng ta đến xem, mới đó, chắc có đứa con cưng đang ra đời ». Và họ cùng đến nơi. « Pierre, coi kìa, coi kìa!» Cả hai sung sướng nhìn thấy những tia sáng huỳnh quang hơi màu xanh lục đang lấp lánh trong các lọ thủy tinh để trên các kệ bàn cũ kỹ, ánh sáng huyền bí ấy quét lên các máy móc cửa phòng thí nghiệm và cả 4 bức tường xung quanh. Căn phòng bình dị của bà sáng lên như một cung điện pha lê trong truyện cổ tích huyền diệu. Cả hai người, đắm chìm trong hạnh phúc thành công, họ không nói lên lời mà cùng đẫm nước mắt, cùng với chất Radium đang tỏa sáng lấp lánh, lấp lánh.
 
***
 
Việc phát hiện ra Radium mở ra thời đại nguyên tử, có năng lượng nguyên tử, loài người mới đi vào vũ trụ. Chất Radium áp dụng trong kỹ nghệ không ngừng, ngoài ra nó còn mang hạnh phúc đến cho con người, dùng trong y khoa, chống lại bệnh ung thư. Sau hai lần nhận giải Nobel, bà mang số tiền gửi cho các quỹ mở nhà thương, tu bổ bệnh viện cũ và trang trải học phí cho các sinh viên nghèo.
     Sau 11 năm chung sống với ông, ngày 19 thang 4 năm 1906, Pierre mất bất ngờ vì tai nạn xe, bà đã gục xuống vì đau buồn, nhưng rồi bà lại can đảm đứng lên, bà đi lấy một tấm hình của bà ngày còn trẻ mà ông thích nhất, đặt tấm hình ây lên ngực thi thể chồng và nói: « Đây cô sinh viên thông minh, anh đã đến và yêu cô ấy, nay hãy để cô ấy theo anh về nơi lạnh giá, anh sẽ cảm thấy hạnh phúc… »
     Tai nạn khủng khiếp của Pierre Curie làm chấn động mọi người. Chính phủ Pháp và trường đại học đến chia buồn và kính tặng gia đình bà một số tiền lớn, nhưng bà từ chối, xin để cho các sinh viên nghèo. Trường đề nghị bà làm giáo sư vật lý kiêm giám đốc phòng thí nghiệm lý hóa Paris. Hai tuần lễ sau, bà ổn định tư tưởng, bình thản bước lên bục giảng của giảng đường, giảng tiếp những bài học mà Pierre Curie đang dậy nửa chừng. Các phóng viên và học giả đến nghe xem bà bắt đầu như thế nào, họ ngạc hiên thấy bà điềm nhiên mở lời: « Chúng ta học tiếp bài về điện và vật chất… » Buổi giảng đầu tiên thành công mỹ mãn, có sinh viên rơi nước mắt xuống bài vở.
     Nhưng bà không ngủ say trước những lời khen ngợi, bà vẫn say mê với công việc, với bổn phận và dù có lúc thương nhớ Pierre vô cùng, bà lại tự nhủ: Gánh có nặng thêm, đường dù có gian truân hơn, mình vẫn tiếp tục đi, đi cho các con, đi cho tương lai hậu thế, đi cho cuộc đời.
    Khi đã vào tuổi 50, bà qua vương quốc Anh, Thụy Điển, trở về quê hương Varsava, đi nhiều nơi và viện nghiên cứu Radium được thành lập làm trung tâm nghiên cứu khoa học, chữa trị ung bướu. Bà từng phát biểu ở mỗi quốc gia bà đặt chân đến: “Bất cứ ai cũng không nên làm giầu từ chất Radium. Nó là một nguyên tố thuộc về tất cả mọi người trên thế giới. Chinh vì thế đó mà Pierre và tôi từ bỏ ý nghĩ về độc quyền chất Radium”.
     Năm 54 tuổi, bà được tổng thống Winson chào đón thân tình, tổng thống gọi Marie Curie là hóa thân của trí tuệ. Thành phố New York vào tháng 5 năm 1921 hoa nở rực rỡ, người dân ở đây ăn mặc đẹp đẽ, hát, múa chào đón “bà mẹ, vị ân nhân của loài người”. Người ta bảo là lòng quý mến nhiệt tình của người dân Mỹ dành cho bà nhiều hơn hẳn nhiều nguyên thủ quốc gia đã đến đó trước bà.
     Einstein cũng vậy, ông từng nói là “Trong những người nổi tiếng, chỉ có Marie Curie là người duy nhất không thay đổi trước danh lợi”.
     Mười năm sau ngày Pierre Curie mất, tháng 2 năm 1916, trận chiến khốc liệt diễn ra ở Pháp quê hương chồng cũng là quê hương thứ hai của bà. Cũng tháng 2  đó Marie Curie từ bỏ tạm thời phòng thí nghiệm và giảng đường. Bà đến miền Verdun, nơi 270000 binh sĩ Đức đang mở cuộc tấn công vào nước Pháp. Bà đã ngày đêm hiện diện ở chiến trường, di chuyển theo xe cứu thương, bà luôn tay luôn mắt điều chỉnh dòng điện, tự chụp hình các vết thương trong bóng tối, cứu sống từng thương bệnh binh đang cận kề sống chết. 20 chiếc xe cấp cứu và 200 trạm chiếu X-quang được dựng lên, được di chuyển làm việc không ngừng của bà Marie Curie đã mang lại sự sống cho hàng triệu chiến sĩ.
     Ngày hôm nay, trong thế kỷ này, năm 2023, chiến cuộc do Nga áp đặt đang bùng lên dữ dội tàn phá Ukraine, chiến cuộc Đông Âu vẫn đang là dầu sôi lửa bỏng. Kẻ bắn giết cứ bắn giết, người đi cứu thương vẫn tiếp tục đi cứu thương, mỗi người đều chăm chú vào nhiệm vụ của mình. Những dòng xe, những bệnh viện dã chiến di chuyển ở Bakhmut, Kherson, Zaporizhia hay Mariopul… nối đuôi nhau như hoảng hốt, vội vã và kiên trì chạy đua với tử thần, với bom đạn hỏa tiển để cứu các thương binh cả bên này lẫn bên kia.
     Người ta có lúc tự hỏi có bà Marie Curie trong đoàn y tế cứu thương đó không? Có, hẳn là có, bà ở đó, hiện diện làm việc và chỉ đạo sáng suốt vì X-quang là con đẻ của bà mà!
     Bà là ai? Nhà bác học vĩ đại! Có thể là hiện thân của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Maria! Có thể là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm Cứu Khổ Cứu Nạn!
     Đoàn xe cứu thương của bà Marie Curie đã nối đuôi nhau vùn vụt đi xa, xa rồi, chẳng đặng đừng, họ bỏ lại đó, bỏ lại chiến trường những xác thây binh sĩ nằm la liệt. Ai lượm? Ai thu dọn ? Ai cho họ những nấm mồ? Chẳng chóng thì chầy, sẽ có đoàn người đi lượm, đi liệm và đi chôn xác người chết trận. Họ chết không toàn thây, văng vãi, tung tóe, ngổn ngang… vì vũ khí ngày nay văn minh quá độ.
     Là như thế, là những tấm lòng vị tha, nhân ái luôn ở cạnh chúng ta, ở trong cuộc đời này!

 

-- Chúc Thanh

(Paris, 10-04-2023)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.