Hôm nay,  

Trả lại đúng bài văn tế khóc vợ của Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) cho ông

11/09/201919:02:00(Xem: 6415)

 

Tiểu sử của Bùi Hữu Nghĩa, nhà văn Nôm danh tiếng đầu thế kỷ 19, cho thấy ông bị hoạn nạn trong khi làm quan do ‘trên’ ganh thù kết án xử tử không đúng, được vợ là bà Nguyễn Thị Tồn lặn lội từ Định Tường ra tới kinh đô Huế kêu oan cho chồng. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của đại thần Phan Thanh Giản, vụ án được tái xét, ông được giải oan nhưng phải đi thú đoái công chuộc tội. Thế nhưng sau đó không bao lâu thì bà Tồn lìa thế khi còn tương đối trẻ, người con út lúc ấy chỉ mới sáu tuổi. Trong lúc đau thương nầy, Bùi Hữu Nghĩa có làm bài Văn Tế Vợ thiệt thống thiết khóc vợ.

Bài văn than khóc mất người hôn phối đã truyền cảm hứng khiến đời sau không ngại ngùng khi làm thơ khóc vợ (Đông Hồ) hay khóc chồng (Tương Phố) vốn là một chuyện rất riêng tư, rồi cho đăng lên báo. Dân Việt vốn nhiều tình yêu gia đình, thông cảm với sự đau thương của người còn lại nên hai vị nầy cũng nổi tiếng bắt đầu từ sự kiện cá nhân đó.

Bài văn tế khóc vợ của Bùi Hữu Nghĩa vì viết bằng chữ Nôm là thứ chữ tàn lụi vài chục năm sau khi được sáng tác, lại thêm bản văn chỉ được lưu truyền dưới hình thức chép tay nên qua thời gian, sự thất lạc và sai biệt đương nhiên phải có.

Điều quan trọng là hiện nay, trên sách vỡ, có ít nhứt hai bản văn hoàn toàn khác nhau được nói là bài văn tế của Bùi Hữu Nghĩa khiến học giới thắc mắc. Chúng tôi qua bài nầy xin giới thiệu bài văn tế nguyên văn bằng chữ Nôm được sự phiên âm, đính chính và chú giải với niềm tin rằng đây mới thiệt sự là bản do Bùi Hữu Nghĩa sáng tác, hầu sau nầy người làm văn học biết rõ hơn về tư tưởng và tình cảm của một nhà văn lớn Miền Nam rất được nhiều người ngưỡng mộ, sống vào những năm nước nhà sắp rơi vào sự đô hộ của nước Pháp.

Trước tiên xin trình bày sự kiện:

  1. Đầu tiên, cuốn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (1858-1920) do Huỳnh Lý chủ biên, NXB Văn học, Hà Nội, 1980 có bài Văn Tế Vợ bắt đầu bằng  những câu:

Hỡi ơi! 
Xưa nay đặng mấy người trọn vẹn, phận sắc tài hằng phải luỵ cái thân; 
Vợ chồng mà ghe nỗi mặn nồng, cơn sanh tử ỷ khôn ngăn giọt lệ. 
Từ thuở bậu vầy duyên can hệ, may mắn nhờ đủ mẹ đủ cha, thời em nâng niu dâng quỳ xẻ áo, thảo mẹ cha không nửa khắc lãng xao; 
Từ ngày anh mắc chốn gian truân, tơi bời có một vợ một chồng, thời em 
đặng đột buôn tảo bán tần, niềm chồng vợ ấy cũng đã phu phỉ. 
Rất họ hàng còn cũng biết thương; 
Huống trời đất có đâu chẳng nghĩ.[1]

Và:

May nhờ có ngoại gia nương cậy, sống đặng nhờ thác cũng đặng nhờ; 
Luống trông cho cuộc thế xong xuôi, sớm chẳng thấy mai đều chẳng thấy. 
Phải chi em chưa thoát nơi trần tục, nỗi oán thù sớm đặng sạch chùi; 
Phải chi em chưa lên chốn non tiên, đứa bạn đảng dám đâu lừng lẫy! 
Phước nhà đặng rảnh mình cao sĩ, vượt mấy sông em dắt chút mẹ già; 
Màn loan sao vắng dạng tiên nga, vầy một ngõ anh khóc cùng ba trẻ. 

 

Trong bài nầy chuyện thương yêu của vợ cặp vợ chồng được cho là Bùi Hữu Nghĩa được kể với vài chi tiết tương tợ ít nhiều với chuyện của ông Nghĩa. Một vài chi tiết trong bản nầy  khiến ta ngờ vực (Phải chi em chưa chết thì bọn nghịch thù dám đâu lừng lẫy, ba con…) Thêm vào đó nhóm Huỳnh Lý đã không đưa ra nguồn tài liệu mình sử dụng, cũng không có bản Nôm, nên tạo một lổ hổng để có thể bị ngờ vực về mức độ chính xác.

  1. Kế đó, trong cuốn sách Văn Học Vùng Đất Mới, tác giả Nguyễn Q. Thắng có đưa ra bản quốc ngữ bài Văn Tế Vợ của Bùi Hữu Nghĩa, khác hoàn toàn với bài do nhóm Huỳnh Lý nói trên. Ông Nguyễn Q. Thắng không nói mình lấy tài liệu ở đâu, theo bản Nôm nào[2], tôi nghĩ là ông chép bản nầy từ quyển Kim Thạch Kỳ Duyên do Nam Cư biên tập và chú thích[3].

Vậy thì cho tới ngày nay chúng ta có hai bản văn cùng một đề tài và cùng được cho là của Bùi Hữu Nghĩa nhưng chưa ai lên tiếng về vụ một hình hai bóng nầy.

  1. Gần đây chúng tôi được đọc quyển sách Nôm[4] ký số HVAU 387 do Thư Viện Khoa Học Tổng Hợp, Sàigòn mới sưu tập được ở đồng bằng Cửu Long, trong đó bài văn tế ‘Chồng tế vợ văn’ (có ghi nơi đầu trang chữ Thủ Khoa Nghĩa 首科義).

Cũng trong quyển nầy còn có nhiều bài Văn Tế Vợ khác nhưng đều không thấy tên tác giả. Sự kiện nầy có nghĩa là người chép (1926) tin tưởng theo truyền thuyết rằng bài mà ông đề tên Thủ Khoa Nghĩa được tương truyền và tin tưởng chính thiệt là của Bùi Hữu Nghĩa. Từ chuyện có/không đề tên tác giả trên những bài văn tế vợ chúng tôi đặt giả thuyết là nhóm Huỳnh Lý thấy một bản Văn Tế Vợ nào đó có vài chi tiết hơi giống giống với tiểu sử của Bùi Hữu Nghĩa bèn cho là bài nầy là của ông.

Quyển sách Nôm HVAU 387 nói trên, ngoài bài của Bùi Hữu Nghĩa có tên tác giả, những bài khác của toàn tập như:

Tế Thầy Cai Tổng Vĩnh Liêm Văn,  Con Thầy Thuốc Tế Mẹ Văn, Tế Chồng Văn, Suôi Gia Tế Văn, Làng Tế Làng Văn, Cháu Tế Chú Văn, Em Vợ Tế Anh Rể Văn, Chồng Tế Vợ Văn, Con tế Mẹ văn, Tử Tế Mẫu Văn, Tử Tế Mẩu Tiểu Tường Văn, Chồng Tế Vợ Văn, Con Tế Cha Văn, Chồng Tế Vợ Văn

đều không có tên tác giả. Điều nầy củng cố hơn cho sự xác quyết về bài văn tế vợ của Bùi Hữu Nghĩa chính là:

 1. Bản Nôm chúng tôi công bố hôm nay mà dị bản của nó là

 2. Bản quốc ngữ mà Nguyễn Q. Thắng đưa ra dựa trên bản quốc ngữ của Nam Cư.

Hai bản nầy trên đại thể giống nhau, sự khác biệt đôi chút do thời gian với sự thêm thắt sửa chửa của người sao chép.

Xin phiên âm và chú giải những nhóm chữ khó đối với người đọc trung bình như vẫn làm xưa nay.

 

 

(t1) Hỡi ơi! 
Gió Nữ phất phơ, Mưa Ngâu lác đác[5]. 

Duyên bình thủy xum vầy[6] bỗng đà tan rã, ngạt ngào bọt nước sóng xao[7]; Đuốc loan phòng tỏ rạng phút treo lu[8], sảng sốt ngọn đèn gió tạt[9]
Nhớ linh xưa: 

Tánh đúc son vàng; Tình không đen bạc. 
Chen
dưới nguyệt vóc tròn hơn nguyệt[10], phòng huê đà rực rỡ gương trinh; Ở trong trần mà chẳng nhuốm trần, vườn dâu khi lm nhơ bụi cát[11]. 
Thìn một lòng dịu dàng đâu trại[12]:

Trong sạch[13] màu bùn chẳng đục[14], nhưng[15] dựa sang giàu, của trăm xe đưa rước cũng không màng
Nghèo mang khố chuối mà thanh[16], phải duyên đằm thắm, đẹp đẽ xóm giềng cùng cô bác.

Ưa mùi đạo khuyên chồng nấu sử[17], nam tử may nợ nước đền bồi
Thảo thờ thân giữ phận dâng lê[18], nữ công đã trọn niềm nhà gánh vác. 
Vợ chồng thảm đều không cha mẹ, em riêng than phận lẻ loi. 

Ở với mẹ đã trọn niềm hiếu hạnh, chìu lòng theo lân lý với anh em; 
Lúc theo chồng vui biết chữ xướng t
ùy (t2) ***** cữu cô[19]; Hòa một cửa anh em, tình vui vẻ lời không chếch mác. 
Trường khoa mục 
anh  mong chí cả, ít nhiều đà mở mặt với hương thônAnh hàn vi bậu dốc tay nâng[20], may mắn cất đầu cùng bạn tác. 
Phận liễu bồ yếu đuối,
em lang thang, anh không nhờ của cũng nhờ công[21].

 

 

 

Nhà nguy biến nghiêng nghèo[22] bậu giúp đỡ, tuy không nên vai cũng đà nên vát.

Nâng giềng sửa mối, rỡ ràng đóa nghiệp với tiên nhơn. …….

buổi trước vì rực rỡ nên gương cùng hậu giác.

Bậu chẳng phải vợ Mãi Thần ngày trước, thời chưa nên gió chảy xuôikhó hèn cam đâu dám trách trời,
Em chẳng phải vợ Tô Tần ngày nọ, vận bất  đạt mà đem lòng khi bạc; gian nan chịu cũng không oán đất.
Tính kịp thời, toan kịp bạn, mới khỏi tuần sấm đất toan bay[23].

Ăn theo thuở ở theo thời, đặng chờ lúc ‘Vận Đằng gặp các[24]’ mới mừng hết lúc gian nan, chưa gặp hanh thời vận đạt.

(t3) Bỗng đâu phút gió day mưa tạt, non hoa hạc lạc trầm trầm; Nào hay nỗi vật đổi sao dời, cửa sổ ngựa qua[25] thoát thoát. 
Ôi!
 
Sông Lệ vàng chìm; Non Côn ngọc nát[26]. 
Cảnh
 giai lão cảm lòng trời đất, giàu có nhau khó cũng có nhau[27]; Quỉ Vô Thường làm cuộc bin dâu, vật tráo chác người sao tráo chác[28]. 

Con sáu tuổi thơ ngây một bóng[29], bậu bao đành xấp mt tìm tiên[30]; Chồng trăm năm lơ láo một mình, em bao nỡ xây lưng cưỡi hạc[31]. 
Ai mượn lão
 Diêm phù rước khách, mẹ lìa con vì gã[32] ức oan; Ai cầu ngươi Quỷ bá[33] đưa người, chồng xa vợ bởi ngươi bạc ác. 
Nghĩ tới chữ "đại đức chi nhân tất đắc kỳ thọ[34]" đọc tới thêm buồn; Tưởng đến câu

"tích thiện chi gia tất hữu dư khương[35]" nghe càng thêm lạt[36]. 
Qua
để bậu chẳng bằng tiền bạc, phận chia gương chẳng kịp nửa giờ[37]; Trời giết người chi sá gươm đao, chứng nghèo ngặt không đầy một lát[38]. 


(t4) Đêm khuya hỡi nâng niu một trẻ, nghĩ càng thêm ruột tợ kim châm; Ngày ra vào vắng vẻ không em[39], ngậm ngùi nhớ ruột dường muối xát. 
Cuộc
 long hổ an rồi ba tấc đất[40], ôi thôi rồi má phấn hồng nhan[41]; Bạn phụng loan phân rẽ một phang trời[42], nghĩ đáo để duơn đơn phận bạc[43]. 
Đã biết
:

Kiếp thác là kiếp mất, tấm lòng thành hơn bảy ngày chay[44]; 

Cho hay:

Nghĩa cựu là nghĩa xưa, dụng ít món  đôi mâm đạm bạc. 
Hỡi ôi, tiếc thay! Hỡi ôi, tiếc thay!

(Hết bài văn tế)

Kết:

Văn học Việt Nam có những điều cần bàn  luận mãi mãi, tôi gọi là những lổ trống cần có những ý kiến để giải quyết dầu là ít khi được đồng thuận (vấn đề dịch giả Chinh Phụ ngâm, vấn đề bài thơ khóc Thị Bằng, vấn đề thời đại và tác giả của những truyện thơ vô danh…) chuyện bài văn tế vợ nầy thiệt ra là chuyện nhỏ. May mà tôi gặp được cơ duyên đọc thấy bản Nôm nên đưa ra thôi.

Trước khi dứt bài nhức đầu nầy xin mạn phép chép ra đây một bài trong quyển Tân Tiếu Lâm của ông Trần Phong Sắc, chuyện vui vui nhưng có thể gọi là liên quan đến việc một hình hai bóng đương nói để người viết và người đọc cùng cười hạ hỏa. (Chép y theo sách.)

‘Anh chủ nhà kia dốt-nát, rước thầy về dạy con, mà thẫy cũng ít chữ quá! nhờ một tập đồ-nòi mà thôi! Đến khi bà mẹ vợ anh chủ nhà mãn phần, chũ nhà cậy thẫy đặt giùm văn tế. Thẫy dỡ tập đồ-nòi ra, chép lộn nhằm văn tế cha vợ! Đến khi ông chũ đem lễ qua tế, học trò lễ đọc văn tế, nghe ra tế cha vợ! Ông gia ảnh nỗi giận mắng rằng: ‘Thằng mù lại rước thầy đui! mẹ vợ chết mà đặt văn tế sống cha vợ! đi về cho rãnh, ở đó mà trù ai?’ Anh nọ mất-cỡ, tức mình về mắng thầy sao có chép lộn! Thẫy giận đỏ mặt, xách tập đồ-nòi, dỡ ra chỉ và nói rằng: ‘Ông coi đó mà coi, tôi chép không sai một chữ! ấy là tại chết lộn, chứ tôi chép có lộn ở mô!’[45]

 

 



[1] http://www.thivien.net/Bùi-Hữu-NghĩaVăn-Tế-Vợ/poem-2EMnhCOaBL-DapWYbiIr2g  -- Bản trên net đánh máy lại có nhiều chỗ sai (can hệ thay vì cang lệ, lãng xoa thay vì lãng xao… )

[2] Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, Nguyễn Quyết Thắng, NXB Văn học, 2009, trang 229-231.

[3] An Giang thư xã, Châu Đốc, 1952, trang 22-27.

[4]  Không tựa lý do vì người xưa sưu chép không nghĩ tới chuyện đặt cho nó một cái tên gọi như chúng ta ngày nay, nhứt là khi họ chỉ chép lại từ nhiều nguồn với phong phú đề tài.

[5] Gió Nữ 𩙋女, mưa Ngâu 𩅹汼chỉ chuyện buồn xa cách của vợ chồng trong điển tích Ngưu lang Chức nữ. Tương truyền khi (chức) Nữ nhớ (ngưu) Lang mà khóc thì tạo nên cảnh trời buồn nơi trần thế với mưa ngâu lác đác. Bản Nôm viết mưa châu, không hợp với văn cảnh tuy cũng diễn tả sự buồn khổ khóc lóc. Để ý ngâu là tiếng trại của ngưu, mưa lác đác rơi lâu dài tạo cảnh buồn được ví như nước mắt chàng Ngưu.

[6] Bản Nôm không có hai chữ xum vầy, tạm mượn trong bản quốc ngữ (QN). Chữ bình thủy lấy ý từ nhóm chữ bình thủy tương phùng nghĩa là bèo nước gặp nhau. Nhưng Bình Thủy là địa phương có thể chỉ nơi hai ông bà gặp gỡ.

[7] Ngạt ngào bọt nước sóng xao: Tức nghẹn vì chuyện chết chóc của bậu, mau lẹ như sóng đánh làm tan vỡ bọt nước. Ngạt ngào, HTC, Nghẹn đi, tức, thở không ra hơi.

[8] Phút: Bỗng nhiên. Treo lu 撩偻,  bản QN Nguyễn Q. Thắng khêu lờ, bản Nam Cư khều lờ.

[9] Tạt 拶, 悉: Phất vô, chữ Nôm viết giọng Nam bằng tạc 鑿  (khắc, đẻo hình, tượng, đá…)

[10] Vóc tròn hơn nguyệt 𦘱𧷺欣月: Bùi Hữu Nghĩa hóm hỉnh nói vợ mình bề thế. Vóc 𦘱: Hình hài, chữ vóc dễ đọc nhầm thành bằng 朋 viết đơn, như trường hợp của bản QN.

[11] Vườn dâu khỏi lấm nhơ bụi cát 养柚塊淋如< 𣼯各: Dùng điển tích ‘trên bộc trong dâu’ để chỉ chuyện lăng nhăng nam nữ. Bà vợ mình không có sự đó. Lấm淋, không phải lầm, tuy hai chữ Nôm viết một dạng. Vườn 園, viết Nôm theo âm Nam kỳ: dường 𦍛. Cũng vậy, cát 𡋥, dùng chữ các 各 và chữ dàng 揚ở câu dưới dùng chữ vàng 鐄. Những chữ nầy là sự chứng nhận không thể tranh cãi là bản văn được viết ra ở vùng đất mới miền Nam, nơi chữ Nôm hầu như được viết theo cách phát âm địa phương.

[12] Đâu trại兜𧼋: Không thay đổi. Bản Nôm viết đâu chạy, theo âm Nam, khiến khó hiểu.

[13] Chữ sạch, bản Nôm viết bằng 丕, chữ nầy Nôm độc vậy, bản QN đọc vấy (không có nghĩa ở đây), tôi ngờ là chữ 歷lịch (sạch) viết đơn.

[14] Chẳng 庄, bản Nôm viết  cũng 拱, vô nghĩa, tạm sửa lại.

[15] Nhưng 仍: Không. Đơn giản của nhóm chữ không nhưng, chẳng có. Nếu phiên âm là những  thì làm nghịch nghĩa, ngược ý của toàn câu.

[16] Tích Trần Minh nhà nghèo quá không có tiền mua vải, phải đóng khố bằng lá chuối nhưng ham học và không tham lam… Thanh đây nghĩa là không tham. Chữ thanh lấy ở bản QN.

[17] Khuyên chồng chăm chỉ học hành.

[18] Dâng lê 仩梨: Con cái dâng đưa thức ăn bánh trái cho cha mẹ, diễn tả sự hiếu. Giữ: Nôm viết theo âm Nam kỳ dữ與.

[19] Cữu cô舅姑: Cha mẹ chồng. Câu: Ở với cha mẹ…. xướng, là bổ khuyết theo bản QN.

[20] Điều nầy phù hợp với tiểu sử rằng Bùi Hữu Nghĩa vốn nhà nghèo, được nhà vợ giúp đỡ…

[21] Nhắc đến chuyện bà Tồn thân phụ nữ mà lặn lội từ Định Tường ra Huế khiếu nại cho chồng… Chỗ nầy bản QN không ổn chỉ vì một chữ khác: thuốc (thang), thay vì lang (thang).

[22] Nguy biến nghiêng nghèo 危変硯𠨪: Chỉ lúc ông Bùi Hữu Nghĩa phải đi lính chuộc tội , bị giặc bắt và những chuyện khổ tiếp theo đó. Chữ nghiêng 迎, bản Nôm dùng âm nghiên 硯 vì theo cách phát âm của người viết.

[23] Tính toán, đoán việc khá thông minh nên tránh được những chuyện  tai nàn trời long đất lỡ của quan trên.

[24] Dùng điển tích và câu thơ: Thời lai phong tống Đằng Vương Các= Gặp may thời đến thì nhờ gió đưa thuyền đem tới gác Đằng Vương kịp lúc. Gặp thời thì thành đạt.

[25] Cửa sổ ngựa qua 𨵣數馭戈: Mượn ý từ đời người qua mau lẹ, như chớp nhoáng, như ‘bóng câu (ngựa hay) chạy vút qua cửa sổ’.

[26] Chỉ những gì quí giá bị hư mất.

[27] Cám ơn trời đất vì hai người được sống chung khi nghèo cũng như lúc hanh thông.

[28] Sự vô thường được mất ở đời như con quỷ làm cho mọi sự thay đổi tới tuyệt cùng..

[29] Bà vợ của ông mất sớm lúc con  còn quá nhỏ, mới sáu tuổi. Tìm vô tiểu sử của Bùi Hữu Nghĩa, ta có thể đoán ra năm làm bài văn tế nầy. 

[30] Xấp mặt tìm tiên 垃𩈘尋仙: Quay lưng lại mà ra đi vào cõi tiên. Chết.

[31] Xây lưng cỡi hạc 𡏦倫騎鶴: Ý tương tợ với xấp mặt tìm tiên. Chữ lưng đã bị dùng bằng luân 倫vì người Nam đọc luân thành lưn.

[32] Mẹ lìa con vì gã ức oan 媄离昆為妸抑寃: Mẹ xa lìa con oan ức vì ông ta, cái ông Diêm vương. Khi giận bực, thì Diêm Vương bị gọi  bằng gã cũng là thường sự.

[33] Diêm phù, Quỷ bá, những tên người xưa đặt ra như có những con quỷ, những nhân vật quyền thế dưới cõi âm lên cõi dương bắt hồn người ta dẫn đi về phía dưới. Cũng như chữ ngươi ở liên dưới chữ tạo được văn phong bi thảm đến giận dữ bất cần gọi Diêm vương bằng những chữ bình thường không ai xài.

[34] Người có đức lớn thì hưởng thọ, sống lâu.

[35] Nhà làm điều thiện thì được an khương, mạnh khỏe, không tật bịnh.

[36] Như trên, lạt 𤁕 (lẽo) đã bị viết thành lạc 落 (rơi)

[37] Nói đến sự đi lính thú của mình, nhà chẳng còn gì để lại cho vợ.

[38] Có lẽ liên nầy nguyên văn là: Trời giết người chi sá gươm đao, phận chia gương chẳng kịp nửa giờ;  Qua để bậu chẳng bằng tiền bạc, chứng nghèo ngặt không đầy một lát. Chữ lát, được viết theo âm Nam.

[39] Tình thương càng khiến buồn thêm khi ở trong đơn chiết. Chữ vắng 咏được phát âm và viết bằng vắn 問( vấn đề g/ng). Chữ tấc 𡬷 ở dưới đã dùng tất 必.

[40] An rồi ba tấc đất 安耒𠀧必坦: Chôn cất xong xuôi. Chữ tấc 𡬷 (thước) dùng tất必 (nhiên). Cuộc long hổ: ?

[41] Một đời người phụ nữ đã qua. Tiếng than đứt ruột.

[42] Chỉ còn người chồng ở lại.

[43] Duơn đơn phận bạc 緣丹分泊: Phận hẩm hiu mình còn lại lẻ loi. Phiên âm duơn thay vì duyên vì lúc đó người ta thường phát âm là dan, (Cái thằng vô dan, đứng án bóng) vần với chữ nhan ở trên.

[44] Lòng thương chơn thật của mình hơn những việc làm chay cúng kiến. Câu nầy có tư tưởng đi trước thời thế quá xa. Hơn trăm năm sau người ta vẫn chưa chạy theo được mấy chữ nầy: Tấm lòng thành hơn bảy ngày Chay: Lòng thương chơ thật hơn là cúng kiến, tụng kinh gỏ mõ.

[45] Trần Phong Sắc và Huỳnh Khắc Thuận, Tân Tiếu Lâm, q1, in lần 2, Saigòn, nhà in J. Viết, bài 53, trang 22. Chép lại đúng bản chánh. Tiện thể cũng bắt chước thầy tôi, nhà văn Vương Hổng Sển nói chuyện sang đàng một chút: Ông Huỳnh Khắc Thuận nầy là cha của ông thẩm phán VNCH, tuần Lý Huỳnh Khắc Dụng. Đồ-nòi: Sách ghi những bài văn tế, những bài thuốc cần thiết để thầy cúng, thầy thuộc cứ theo đó mà đọc tùy trường hợp.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sky River Casino vô cùng vui mừng hào hứng tổ chức chương trình Ăn Tết Nguyên Đán với những giải thưởng thật lớn cho các hội viên Sky River Rewards. Chúng tôi cũng xin kính chúc tất cả Quý Vị được nhiều may mắn và một Năm Giáp Thìn thịnh vượng! Trong dịp đón mừng Năm Mới Âm Lịch năm nay, 'Đội Múa Rồng và Lân Bạch Hạc Leung's White Crane Dragon and Lion Dance Association' đã thực hiện một buổi biểu diễn Múa Lân hào hứng tuyệt vời ở Sky River Casino vào lúc 11:00 AM ngày 11 Tháng Hai. Mọi người tin tưởng rằng những ai tới xem múa lân sẽ được hưởng hạnh vận.
Theo một nghiên cứu mới, có hơn một nửa số hồ lớn trên thế giới đã bị thu hẹp kể từ đầu những năm 1990, chủ yếu là do biến đổi khí hậu, làm gia tăng mối lo ngại về nước cho nông nghiệp, thủy điện và nhu cầu của con người, theo trang Reuters đưa tin vào 8 tháng 5 năm 2023.
(Tin VOA) - Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) vào ngày 13/9 ra thông cáo lên án Việt Nam tiếp tục lạm dụng hệ thống tư pháp để áp đặt những án tù nặng nề với mục tiêu loại trừ mọi tiếng nói chỉ trích của giới ký giả. Trường hợp nhà báo tự do mới nhất bị kết án là ông Lê Anh Hùng với bản án năm năm tù. RSF bày tỏ nỗi kinh sợ về bản án đưa ra trong một phiên tòa thầm lặng xét xử ông Lê Anh Hùng hồi ngày 30 tháng 8 vừa qua. Ông này bị kết án với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ theo Điều 331 Bộ Luật Hình sự Việt Nam
Từ đầu tuần đến nay, cuộc tấn công thần tốc của Ukraine ở phía đông bắc đã khiến quân Nga phải rút lui trong hỗn loạn và mở rộng chiến trường thêm hàng trăm dặm, lấy lại một phần lãnh thổ khu vực đông bắc Kharkiv, quân đội Ukraine giờ đây đã có được vị thế để thực hiện tấn công vào Donbas, lãnh phổ phía đông gồm các vùng công nghiệp mà tổng thống Nga Putin coi là trọng tâm trong cuộc chiến của mình.
Tuần qua, Nước Mỹ chính thức đưa giới tính thứ ba vào thẻ thông hành. Công dân Hoa Kỳ giờ đây có thể chọn đánh dấu giới tính trên sổ thông hành là M (nam), F (nữ) hay X (giới tính khác).
Sau hành động phản đối quả cảm của cô trên truyền hình Nga, nữ phóng viên (nhà báo) Marina Ovsyannikova đã kêu gọi đồng hương của cô hãy đứng lên chống lại cuộc xâm lược Ukraine. Ovsyannikova cho biết trong một cuộc phỏng vấn với "kênh truyền hình Mỹ ABC" hôm Chủ nhật: “Đây là những thời điểm rất đen tối và rất khó khăn và bất kỳ ai có lập trường công dân và muốn lập trường đó được lắng nghe cần phải nói lên tiếng nói của họ”.
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cử hành Ngày Quốc tế Nhân Quyền Lần Thứ 73 và Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 20.
Sau hơn 30 năm Liên bang Xô Viết sụp đổ, nhân dân Nga và khối các nước Đông Âu đã được hưởng những chế độ dân chủ, tự do. Ngược lại, bằng chính sách cai trị độc tài và độc đảng, Đảng CSVN đã dùng bạo lực và súng đạn của Quân đội và Công an để bao vây dân chủ và đàn áp tự do ở Việt Nam. Trích dẫn chính những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam, tác giả Phạm Trần đưa ra những nhận định rất bi quan về tương lai đất nước, mà hiểm họa lớn nhất có lẽ là càng ngày càng nằm gọn trong tay Trung quốc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Tác giả Bảo Giang ghi nhận: “Giai đoạn trước di cư. Nơi nào có dăm ba cái Cờ Đỏ phất phơ là y như có sự chết rình rập." Tại sao vậy? Để có câu trả lời, mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của nhà văn Tưởng Năng Tiến.
Người cộng sản là những “kịch sĩ” rất “tài”, nhưng những “tài năng kịch nghệ” đó lại vô phúc nhận những “vai kịch” vụng về từ những “đạo diễn chính trị” yếu kém. – Nguyễn Ngọc Già (RFA).. Mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của phó thường dân/ nhà văn Tưởng Năng Tiến để nhìn thấy thêm chân diện của người cộng sản.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.