Hoa Kỳ đang tiến gần đến tình trạng suy giảm dân số khi tỷ lệ sinh giảm, dân số già đi. Người nhập cư vốn là nguồn bổ sung lực lượng lao động vốn có từ lâu của Hoa Kỳ, hiện nay đang bị ngăn chặn bởi chính sách chống di dân. Theo dữ liệu từ Cục Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ, nếu tình trang này kéo dài, dân số Hoa Kỳ có thể giảm xuống còn 226 triệu người vào năm 2100.
Xu hướng này không chỉ xảy ra ở Mỹ, mà là tình trang chung trên toàn cầu, đang định hình lại Châu Âu và Đông Á. Hai phần ba nhân loại đang sống ở các quốc gia có tỷ lệ sinh dưới mức thay thế là 2.1 con trên mỗi phụ nữ. Đến năm 2100, dân số ở một số nền kinh tế lớn sẽ giảm từ 20 đến 50%, dựa trên dự báo của Liên Hợp Quốc.
Trong một cuộc họp báo trên mạng diễn ra vào giữa tháng 12 của American Community Media, các diễn giả đã đưa ra những góc nhìn khác nhau về các yếu tố dẫn đến nguy cơ giảm dân số; tác động đến kinh tế do giảm lực lượng lao động; những tác động tiềm tàng của dân số đối với môi trường.
Tiến Sĩ Ana Langer là Giám Đốc Trung Tâm Sáng kiến Phụ nữ và Sức khỏe tại Trường Y tế Công cộng Harvard T.H. Chan. Theo bà, khuynh hướng giảm tỉ lệ sinh đã diễn ra tại nhiều khu vực trên thế giới trong khoảng nửa thế kỷ qua. Vào năm 1970, tỉ lệ sinh sản trung bình toàn cầu là 5 trẻ/phụ nữ; đến năm 2024 giảm xuống 2.2. Châu Phi là lục địa có tỉ lệ sinh sản cao nhất cũng đang giảm: từ 6.7 trẻ/phụ nữ năm 1970 còn 4.5 vào năm 2024; ở Châu Á, các con số tương ứng là 5 và 2.1; ở Châu Mỹ: 4.5 và 1.9; riêng tại Hoa Kỳ: 3.5 và 1.6. Tỉ lệ sinh là một yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng giảm dân số, cùng với những yếu tố khác như tỉ lệ tử, di dân…
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến tỉ lệ sinh của các cộng đồng cư dân tại một quốc gia: sắc tộc, tôn giáo, khu vực sinh sống (thành thị hay thôn quê), điều kiện kinh tế, quan niệm sống... Tại Hoa Kỳ, tỉ lệ sinh giảm là do điều kiện sinh nở, nuôi con ngày càng đắt đỏ, khó khăn. Phụ nữ ngày nay phải chịu nhiều áp lực từ việc làm nên có khuynh hướng có con trễ hơn, hoặc không muốn có con vì có nhiều nỗi lo, bất an về cuộc sống. Tại Trung Quốc, chính sách mỗi gia đình chỉ có một con từ năm 1979 đã làm giảm mạnh tỉ lệ sinh, dẫn đến thiếu hụt lực lượng lao động. Vào năm 2015, Trung Quốc thay đổi chính sách, cho phép một gia đình có thể có hai con; đến năm 2021 tăng lên ba con. Tuy nhiên, những chính sách này cũng không làm tăng tỉ lệ sinh lên trên mức thay thế (2.1). Hiện nay, tỉ lệ sinh ở Trung Quốc vào khoảng 1.09.
Tỉ lệ sinh ở Hàn Quốc thuộc hàng thấp nhất thế giới, khoảng 0.75 vào năm 2024.
Nước Mỹ hiện nay đang tìm cách khuyến khích phụ nữ sanh con để tăng tỉ lệ sinh, tuy nhiên vẫn chưa có dấu hiệu cho thấy tỉ lệ sinh sẽ đạt đến mức thay thế trong tương lai gần. Thống kê cho thấy phụ nữ di dân có tỉ lệ sinh cao hơn mức trung bình ở Mỹ. Với chính sách chống di dân như hiện nay, nguy cơ giảm dân số trong tương lai là khó tránh khỏi.
Anu Madgavkar, nhà nghiên cứu dân số học thuộc McKinsey Global Institute, cho biết việc suy giảm dân số sẽ ảnh hưởng đến mức tăng trưởng kinh tế trên toàn cầu do thiếu hụt lực lượng lao động. Ở những quốc gia công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, mức tăng trưởng GDP hằng năm thường thấp, do đó bất kỳ một mức giảm nào cũng đáng lo ngại. Dân số già đi, số người đi làm giảm, số người già hưu trí tăng. Trước đây, bốn người Mỹ đi làm nuôi một người hưu trí, nay con số này giảm còn hai người nuôi một người. Quĩ an sinh xã hội của Hoa Kỳ thấp hơn nhiều so với Châu Âu do hệ thống thuế. Có hai cách để giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động. Một là tăng tuổi về hưu. Hai là những người đi làm phải có năng suất cao hơn, hiệu quả hơn. Bà Anu cho rằng trí tuệ nhân tạo (AI) có thể là một giải pháp tiềm năng để làm tăng năng suất lao động trong tương lai. Những người đi làm nên làm quen với kỹ năng sử dụng AI để hỗ trợ cho công việc của mình.
Tiến sĩ Philip Cafaro thuộc đại học Colorado State University có quan điểm tương đối khác về dân số, đứng từ góc nhìn về môi trường. Ông cho rằng các nghiên cứu kể trên lo ngại dân số toàn cầu giảm là nói về tương lai. Chứ ngay trong hiện tại, dân số thế giới vẫn tăng. Thống kê của Liên Hiệp Quốc ước tính dân số thế giới tăng khoảng 60-70 triệu người vào năm ngoái. Vào năm 1925, dân số thế giới vào khoảng 2 tỉ người; đến năm 2025 con số này là khoảng 8.2 tỉ. Ở Hoa Kỳ, dân số vào năm 2000 theo thống kê dân số là 281 triệu, đến năm 2024 là 324 triệu. Dân số càng đông, mức độ khai thác tài nguyên thiên nhiên càng lớn, sự hủy hoại môi trường càng mạnh. Tình trạng băng tan, cháy rừng, lũ lụt, hạn hán… xảy ra khắp nơi ở cường độ ngày càng lớn. Con người đang tàn phá môi trường để phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của mình.
Tiến sĩ Philip cho rằng vấn đề giảm tăng trưởng kinh tế 0.5% không đáng lo ngại bằng tình trạng phá hoại môi trường. Một trong những cách bảo vệ môi trường hữu hiệu là cần giảm dân số toàn cầu, vì vậy giảm tỉ lệ sinh là điều cần thiết. Ông tin rằng nước Mỹ cũng cần giảm dân số để có được sự phát triển bền vững, kể cả giảm số lượng di dân. Ông cho là mức độ trên hai triệu di dân vào nước Mỹ hằng năm trong thời tổng thống Biden là quá cao, nên kiểm soát ở mức một triệu. Ông không hoàn toàn đồng ý với cách trục xuất di dân tàn nhẫn của chính quyền hiện tại, nhưng cho rằng lẽ ra những chính quyền trước cần hạn chế di dân tốt hơn. Ông đồng ý với ý kiến cho rằng những người giàu ở nước Mỹ nên giảm mức tiêu thụ để bảo vệ môi trường, nhưng chưa đủ. Kiểm soát dân số là một chiến lược quan trọng để phát triển bền vững hơn.



