• Trang Nhất
  • WebLinks
    • Á Châu
    • Âm Nhạc - Giải Trí
    • Cá Nhân - Gia Đình
    • Chính Trị
    • Cơ Sở Thương Mại
    • Cộng Đồng
    • Du Lịch
    • Hội Đoàn
    • Truyền Thông
    • Tôn giáo
    • Tổng Hợp
    • Văn Học & Nghệ Thuật
    • Xã Hội - Đời Sống
    • Youtube Channel
  • Diễn Đàn
  • Rao Vặt
  • Lịch Sinh Hoạt
  • Liên Lạc
    • Ban Biên Tập
    • Gởi "Bạn Đọc Viết"
    • Gởi Lịch Sinh Hoạt
    • Quảng Cáo
      • Quảng Cáo Báo Giấy
      • Quảng Cáo Online
    • Online
    • Thêm-Sửa Weblink
    • Tòa Soạn
    • Cáo Phó - Phân Ưu
    • Viết Về Nước Mỹ
  • Kênh RSS
Hội nhập | Ghi Danh

Bet at Vietbet

  • Tin Ngày
    • Bình Luận
    • Cộng Đồng
    • Hoa Kỳ
    • Hình Trong Ngày
    • Kinh Tế - Tài Chánh
    • Sức Khỏe
    • Thế Giới
    • Thư Sài Gòn
    • Tin Trong Ngày
    • Trước Thời Cuộc
    • Việt Nam
  • Tin Tuần
    • Cuối Tuần
    • Địa Ốc
    • Gia Đình
    • Nguời Việt Đất Mỹ
    • Thẩm Mỹ
    • Thiếu Nhi
      • Bé Viết Văn Việt
      • Chùm Ảnh Dự Thi 2007
      • Góc Ảnh Của Bé
      • Tranh Dự Thi 2007
      • Thơ Bé
    • Thông Tin - Đời Sống
    • Văn Học Nghệ Thuật
    • Xe Hơi
  • Chuyên Mục
    • Ảnh Sinh Hoạt
    • Báo Xuân
      • Báo Xuân 2013
      • Báo Xuân 2012
    • Chúc Mừng - Nhắn Tin
    • Chức Năng Web VB
    • Di Trú
    • Hội Nhập
    • Luật Pháp
    • Lưu Bút
    • Phân Ưu - Cáo Phó
    • Sách - Báo - Truyện
    • Tác Giả - Bạn Đọc
    • Lưu Trữ
      • 30-4-1975
      • Ảnh Của Bạn
      • Bóng Đá Thế Giới 2010
      • Chuyện Việt Nam
      • Cờ Vàng
      • Bạn & Thuế
      • Bầu Cử
      • Gia Chánh
      • Hí Họa
      • Hội Đoàn
      • Kinh Doanh
      • Lược Sử
        • Nhà Trần Khởi Nghiệp
      • Nhạc cổ điển
      • Phong Thủy
      • Sổ Tay
      • Sự Thật Tết Mậu Thân 68
      • Tiểu thuyết
      • Tâm Linh
        • Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Mãn Giác
      • Tham Khảo
      • Thể thao
      • Trang Thơ
      • Trang Văn
      • Tử Vi 2007
      • Úc Châu
      • Văn Hóa
      • Việt Báo Trẻ
      • Võ Thuật
      • Xã Hội
    • Thời Sự Nóng Bỏng
    • Thương Mại
    • Truyện Đọc
    • video test
  • Viết Về Nước Mỹ
    • VVNM 2013
    • VVNM 2012
    • VVNM 2011
    • VVNM 2010
    • VVNM 2009
    • VVNM 2008
    • VVNM 2007
    • VVNM 2006
    • VVNM 2005
    • VVNM 2004
    • VVNM 2003
    • VVNM 2002
    • VVNM 2001
    • VVNM 2000
    • Thông Báo VVNM
  • Sức Khỏe Là Vàng
  • WebLinks
  • Phim - Ảnh Cộng Đồng
    • Bài Hát
    • Ca Nhạc
    • Nhạc Chọn Lọc
    • Cộng Đồng
    • Hài Kịch
    • Cãi Lương
    • Phật Giảng
    • Suy Niệm
    • Tin Tức Thời Sự
    • Phỏng Vấn Người Nổi Tiếng
    • Phóng Sự - Du Lịch
    • Làng Nghề Việt Nam
    • Gia Đình - Mẹo Vặt
    • Hội Đoàn
    • Lượm Lặt
    • Nấu Ăn - Làm Bếp
    • Nghệ Sĩ
    • Tổng Hợp
    • Thời Trang
Bộ gõ tiếng Việt
Viết Về Nước MỹVVNM 2012 
microsoft security essentials Trung Tam Thuong Mai Viet Nam Online
Quí khách về Bolsa ăn TẾT cần biết nhà hàng, thực đơn và địa điểm? 
  • VVNM 2013
  • VVNM 2012
  • VVNM 2011
  • VVNM 2010
  • VVNM 2009
  • VVNM 2008
  • VVNM 2007
  • VVNM 2006
  • VVNM 2005
  • VVNM 2004
  • VVNM 2003
  • VVNM 2002
  • VVNM 2001
  • VVNM 2000
  • Thông Báo VVNM
Tác giả
Bồ Tùng Ma
  • Mẹ Việt Nam Ở Phố Tàu
  • Bên Hồ Mile Square Park
  • Đổi Đời
  • Hẹn Tết Nhâm Thìn
  • Viết Về Nước Mỹ và Tôi
  • 10 Năm Đọc Lại: Ông Ba Đau Khổ
  • Bạn Tôi Và Họp Mặt Viết Về Nước Mỹ
  • Mối Tình Muôn Dặm
  • Du Học Sinh Và Nghề Nail
  • Cưới Vợ Du Học Sinh
  • Du Sinh Vn Và Học Kỳ Mùa Xuân
  • Chuyện Tình Du Học Sinh
  • Hội Ma Quỉ Độc Thân
  • Thăm Con Du Học
  • Cô Nữ Sinh Giao Lưu Văn Hoá
  • Bảy Em Du Học Sinh
  • Vào Nơi Gió Cát
  • Thằng Mất Dạy
  • Mùa Đông Đã Hết
  • Nói Chuyện Tử Sinh
  • Người Vợ Gỗ
  • Ngày Hội Ngộ 28-6-2008
  • Mẹ Tôi
  • Mái Nhà Xưa
  • Ghen
  • Bùa Yêu
  • Vài Ghi Nhận Về Quân Nhân Mỹ Gốc Việt
  • Nỗi Lòng 30 Tháng 4
  • Ám Ảnh
  • Một Lần Trở Lại
  • Chồng Bé
  • Sợ Con
  • Phép Lạ
  • Tái Sinh
  • Hành Trang Giã Từ
  • Tĩnh Dạ Viên
  • Ông Mỹ Chết Nhát
  • Bộ Hài Cốt (mỹ)
  • Con Ma Trong Nghĩa Trang Westminster
  • Ông Ba Đau Khổ
Apogee Kimberly Skin 1888depsang.com

Ghi danh để nhận Bản Tin
Nhập địa chỉ email.
Free Webiste - FREE Domain - FREE Hosting - FREE Website Design

BÁO XUÂN 2012 - BAO XUAN 2012 -Di cho viet nam - Đi chợ việt nam

Bộ Kem Trị Nám
Lịch Sinh Hoạt Cộng Đồng
advertising call 714-988-5388
di tru bao lanh. di trú bảo lãnh

luat su do phu anh tuan. luật sư đỗ phủ anh tuấn
luat su nguyen quoc lan. luật sư nguễn quốc lân
Royal Restaurant
VVNM Giải Thưởng Việt Báo

Website được tạo bởi VNVN. Nhanh Chóng - Dễ Dàng - Thuận Tiện - Hiệu Quả - An Toàn

Danh Sách Nhà Hàng Khách Sạn Việt Nam
All | 0-9 | A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
Hôm nay, 05/21/2013 01:37 AM
Tháng Tư Đen, Tháng Tư Sáng: Chuyện Thiếu Tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thuỷ và Đại Tá Võ Bị Lê Thành Long: Từ Đắng Cay Hậu Chiến...
(04/07/2012) (Xem: 38280)
Tác giả : Trangđài Glassey-Trầnguyễn
Nhân Tháng Tư Đen năm thứ 37, từ nay mỗi cuối tuần,  Viết Về Nước Mỹ sẽ là loạt bài đặc biệt do tác giả Trangđài Glassey-Trầnguyễn thực hiện trong Dự án “Tháng Tư Đen, Tháng Tư Sáng” về những ảnh hưởng của tang thương và mất mát trên đời sống tình cảm của người Việt hải ngoại qua sự bảo trợ của tiểu bang California cho Chương trình Báo chí về Y tế Sức khỏe (CEHJF), và do Trường Báo chí và Thông tin Annenberg của Đại học University of Southern California tổ chức. Cô sử dụng phương pháp lịch sử truyền khẩu, cùng kinh nghiệm dấn thân cộng đồng, và tư duy trải nghiệm.

This project “Black April, Bright April” © is produced using oral history, community participation, and lived perspectives. Trangđài Glassey-Trầnguyễn reporting on trauma, loss, and emotional health in the Vietnamese diasporas was undertaken as part of the 2011-12 California Endowment Health Journalism Fellowships (CEHJF), a program of the University of Southern Californias Annenberg School for Communication & Journalism.

CHỦ TRƯƠNG CỦA
NGƯỜI THỰC HIỆN:

Từ năm 1976 đến nay, mỗi Tháng Tư là một thời gian hồi tưởng, truy niệm chung  cho  người Việt hải ngoại. Qua dự án này, tôi muốn quy nhận truyền thống tưởng niệm này của Cộng đồng người Việt hải ngoại. Đồng thời, tôi cũng muốn đón nhận và đưa lên giá cao những ngọn đèn đã làm cho Tháng Tư 1975 không chỉ còn là một ngày của bạo lực và mất mát. Chúng ta đã xây dựng những Tiểu Việt Nam khắp dọc dài thế giới. Chúng ta đã nuôi dạy nhiều thế hệ trẻ thành nhân tài xứ người. Chúng ta đã xoay ngược thế cờ, dùng sức mạnh của thế giới và tư duy đương đại để gìn giữ lịch sử và phát triển tương lai. Những ngọn đèn đó vẫn tỏa sáng giữa chúng ta – là chính ông bà, cha mẹ, anh chị em, con cái của chúng ta – đang thắp lên một bình minh mới trên những đổ nát hôm qua. Chúng ta không chỉ có một Tháng Tư Đen, mà chính mỗi chúng ta cũng là hiện thân của một Tháng Tư Sáng.

PHẦN 1(4):

MƯỜI BA NĂM KHỔ SAI

Những ngày sau 30 tháng Tư, 1975 chắc chắn là những ngày kinh hoàng nhất cho rất nhiều gia đình tại miền Nam Việt Nam. Nhưng đối với một số người, những ngày ấy kéo dài tưởng như vô tận, đến mười mấy năm, mà mỗi ngày là một thế kỷ của nhọc nhằn và mỗi đêm là một trường canh của kinh sợ.

Cái giai đoạn lịch sử ấy – tuy man rợ và đầy tang thương – nhưng vẫn là một di sản được những người trong cuộc ôm ấp và gìn giữ. Bởi vì, cái lịch sử ấy chính là một dấu chứng cho niềm tin vào điều thiện và sự vượt qua của những ai còn sống sót sau kinh nghiệm hỏa lò. Đó có lẽ là lý do mà khi đến Mỹ, Cựu thiếu tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy đã mang theo 3 vật rất quan trọng đối với mình. Một đôi găng tay may từ vải vụn, bà đã dùng trong thời gian 13 năm tù cải tạo. Hai chiếc áo tù –  một bằng vải thô, và một bằng len, do chính bà đan lại từ hai chiếc áo lạnh cũ đã chật của hai con gái, do mẹ bà gửi vào. Và một cơ thể đã bị phá hủy, thương tật.

Nhưng bà cũng mang theo một gia tài quan trọng hơn cả những vật chứng này – một gia tài không ai có thể tịch thu, đấu tố, hay phá hủy: một ý chí để sống, một nghị lực phục vụ gia đình và xã hội, và một niềm tin mãnh liệt vào Chúa. Chính gia tài này đã là cứu cánh cho bà trong suốt 13 năm tù, và quãng đời sau đó.

Trên hai chiếc áo tù đó, số tù – cũng là 'nhân diện' của bà trong mười ba năm khổ sai – đã bắt đầu phai nhạt theo năm tháng. Nhưng những đau đớn về tinh thần lẫn thể xác vẫn còn hằn sâu. Có lẽ những thế hệ một và một rưỡi còn nhớ và biết cái bi kịch hỏa lò tại Việt Nam, nhưng thế giới và những thế hệ Việt ngoại biên vẫn cần một văn khố chính thức về bi kịch này.

Cô dâu Thanh Thuỷ và chú rể Lê Thành Long.
Điều quan trọng là chúng ta không để cho những sự thật về bi kịch này phai nhạt – như những số tù trên áo những người tù khổ sai năm nào. Chúng ta cần ghi lại những đau thương – không vì hận thù – nhưng vì để đấu tranh cho Công lý, Hòa bình, Tự do, Bác ái. Đến bao giờ, người Việt hải ngoại mới có một tác phẩm như Quần Đảo Ngục Tù của  Aleksandr Solzhenitsyn, người đoạt giải Nobel Văn Chương 1970 với những tác phẩm vạch trần cái hỏa lò của Cộng Sản Xô Viết? Những quần đảo ngục tù vẫn còn hoành hành trên cơ thể của nhiều con dân Việt và ngay trên đất Việt qua những hậu quả khốc liệt của nó. Đến bao giờ chúng ta mới có một Solzhenitzyn của Việt Nam? Vì nếu những đau thương này đã đến từ bất công, thì chúng cũng là một mối đe dọa cho con người ở tất cả mọi nơi – như nhà tranh đấu dân quyền Martin Luther King đã nói, "Bất công ở bất cứ nơi nào là bất công ở khắp mọi nơi." Xã hội con người không tách rời nhau bởi biên giới hay ngôn ngữ, mà cộng thông trong lý tưởng công bằng, bác ái, và dân chủ.

Chiếc áo tù ngày nào, tuy nay không còn ấm lạnh trên người Nguyễn Thanh Thủy nữa, nhưng kinh nghiệm mười ba năm tù khổ sai là một chiếc áo đầy gai, vẫn châm chích và làm đau đớn tâm hồn và thể xác bà. Hai mươi bốn năm sau khi ra khỏi trại tù, bà vẫn còn oằn oại trong những bệnh tật do giai đoạn oan nghiệt này tạo ra, và những kinh hoàng của bốn tháng biệt giam vẫn bám riết tâm trí bà. Chúng ta thử cùng bà ngồi trước màn ảnh của quá khứ, chứng kiến lại những điều mà trước nay bà chưa nói được với ai, vì nó quá kinh hoàng và khó khăn để thuật lại.

Nguyễn Thanh Thủy nhớ lại, “Vài hôm sau ngày 30 tháng Tư, 1975, tôi bị gọi đến nơi làm việc của Ủy Ban Quân Quản của chế độ Cách Mạng (tức Văn Phòng Khối Đặc Biệt, đường Cộng Hòa cũ) để hỏi cung từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Cán Bộ Cộng Sản cho biết, lẽ ra giam cầm tôi luôn, nhưng vì các con tôi còn quá nhỏ, nên mỗi ngày tôi đến đây làm việc rồi về. Họ cho tôi xấp giấy, cây viết, và muốn tôi viết lại quá trình hoạt động. Mỗi ngày tôi chỉ viết lý lịch của mình, rồi tôi nộp, nhưng họ không bằng lòng. Tôi có cho họ biết là tôi không nhớ gì cả, và yêu cầu họ cho tôi thời gian để tập trung trí nhớ. Sau đó, họ giúp tôi bằng cách dẫn tôi đi vòng quanh khối Đặc Biệt, vào những phòng làm việc của Khối để nhìn từng nơi xem thấy cái gì còn, cái gì mất. Tôi chú ý đến Văn phòng của Trưởng Cơ Quan E4, nơi còn những bản sơ đồ vẽ hệ thống hoạt động, những bản thuyết trình có ám danh công tác, bí số nhân viên, nhưng không có tên tuổi thật. Tôi nghĩ trong đầu một kế hoạch để đối phó với Cộng Sản khi bị hỏi cung.”

Nguyễn Thanh Thủy không chỉ là một người tù cải tạo. Bà còn là vợ một người tù cải tạo. Chồng bà, Cựu Đại Tá Võ Bị Lê Thành Long, cũng vào tù sau ngày 30 tháng Tư 1975. Ba người con nhỏ của ông bà được gửi gắm lại cho ông bà Ngoại tại Mỹ Tho. Tuy nhiên, những cố gắng để kéo dài thời gian hỏi cung của bà cũng không giúp bà được ở gần gia đình mãi. Đến 15 tháng Sáu, 1975 thì bà bị tập trung vào tù cải tạo. Theo lời bà, thì “Tôi ở chung trại với tù cải tạo nam, học tập chính trị ở hội trường, học quốc ca của Cộng Sản và những bài hát đấu tranh chống Mỹ Ngụy, làm những bài thu hoạch, phê và tự phê, kiểm điểm, nộp cho họ. Tất cả mọi người phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa đều có tội nhiều hoặc ít. Đó là cách luận tội của Cộng Sản. Tôi vào trại tù cải tạo Long Thành, với một túi xách đeo vai, một chiếc chiếu nhỏ cho một người nằm. Thiếu đủ mọi thứ. Tôi phải xuống hố rác cạnh dãy nhà chúng tôi ở, để tìm chai, lọ, mấy tấm tôn để đựng nước, đựng cơm, thức ăn… Nước chỉ đủ uống, không đủ tắm. Trời tháng sáu mưa dầm dề. Chờ trời mưa, tôi gội đầu tắm giặt nhờ những dòng nước mưa chảy theo mái nhà.”

Trong suốt thời gian bị giam một mình, bà đã canh cánh sợ bị bọn võ trang muốn làm hỗn nên không bao giờ dám chợp mắt, đã nơm nớp khiếp sợ mỗi đêm khi cai ngục lẻng kẻng xâu chìa khóa đâu đó giữa rợn rùng thăm thẳm tối. “Vì đêm trước có ai bị đưa đi, thì sáng hôm sau coi như mất tích,” bà nói. Hơn nữa, phương tiện vệ sinh căn bản nhất cũng không có. Bà hồi tưởng, “Nói đến nơi tiểu tiện bằng những cầu dã chiến ngoài trời, mưa dầm là nó lầy lội, và những con vòi trắng lềnh bềnh mà nữ thì làm sao dám ngồi để tiểu tiện, nên tôi đành nín, nhịn khát, đợi tối mới ra cái nhà tắm che bằng bốn vách lá, đi xong cho vào hố rác. Nhớ tới cảnh này, tôi luôn rùng mình, sao tôi chịu nổi dơ bẩn như thế.”

Bà nói tiếp, “Đầu tháng 10 năm 1975, tôi bị chuyển về trại giam Thủ Đức (tức 16NV). Chỉ có một người nữ bị chuyển là tôi. Tôi ở một mình trong phòng giam và bắt đầu các cán bộ thẩm vấn, điều tra từ trung ương đến. Tôi bị kêu lên đêm có, ngày có, bị hỏi liên tục, hỏi xong rồi bắt viết, thu bài. Những tháng ngày này, đầu óc tôi quá căng thẳng. Cả đêm không buồn ngủ, tựa lưng vào vách tường, kê túi quần áo và gối nằm để làm điểm tựa viết bài họ điều tra.”

Bà mẹ Thanh Thuỷ và ba con thơ tại Mỹ Tho.
Bà nhớ lại, “Tôi phải cải tạo khổ sai ở đây nhiều năm, không đủ vệ sinh và thiếu thốn. Ăn thì độn khoai mì có vỏ đỏ quấy, gọi bột ngàng phệt, hột bo bo, mì sợi luộc có cả con chuột chết vớt ra bỏ đi, lại tiếp tục chia mì sợi cho người một phần để ăn, không thì đói. Cả ngày cuốc xới mỏi mệt, tối đến vào phòng ngủ gần người lao phổi (xuất huyết phổi tới thời kỳ chót), bệnh giang mai thời kỳ thứ ba, phổ có nước thời kỳ chót. Tôi phải sống chung với họ cho tới khi họ được tha, và không bao lâu thì họ chết. Tôi phải may những nệm ngồi bằng vải vụn riêng để tránh lây nhiễm. Lúc ngủ, các bạn khỏe xếp gần nhau, chừa một chiếu cách người bệnh, xây đầu khác hướng với người bệnh và xây lưng về phía người bệnh để tránh lây nhiễm.”

Vì Nguyễn Thanh Thủy đã giữ một vai trò khá quan trọng khi phục vụ dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, bà đặc biệt bị quản lý nghiêm ngặt và tra khảo liên tục, làm bà chóng mặt, căng thẳng đến ngã bệnh. Cán bộ không bao giờ rời mắt khỏi bà, ngay cả về đêm. Bà kể, “Tôi là người tù bị chỉ định nằm ngay cửa ra vào hoặc ngay cửa sổ phòng tù để họ dễ kiểm soát hành vi về đêm của tôi. Cửa sổ tù không bao giờ có cửa để đóng lại, nên rất lạnh. Đêm đêm đói bụng quá, các bạn tù kể món ăn này, món ăn kia cho đỡ thèm đỡ đói. Nhớ chồng con kể chuyện hạnh phúc ngày nào thì có bà lên tiếng, kêu đừng kể nữa, vì rờ hai bên toàn chiếu không. Tới ngày thăm nuôi được gặp thân nhân gia đình, là lúc lấy dạ dày an ủi trái tim.”

Trong hoàn cảnh lao tù khổ sai, người nữ tù chịu nhiều khó khăn và khổ sở hơn người tù nam, nhất là về phần vệ sinh hằng tháng, và sự an toàn bản thân. Không chỉ những nữ tù cải tạo mới bị dòm ngó và hãm hiếp, mà những phụ nữ bị bắt vì vượt biên cũng bị lính gác bạo hành về tình dục. Sự căng thẳng của người tù nữ, vì vậy, cao gấp nhiều lần so với bạn tù nam. Bà lại kể, “Trại giam có nước máy, nên vệ sinh cá nhân cũng đỡ, nhưng vấn đề phụ nữ hằng tháng, không có băng giấy, tôi phải dùng quần áo cũ xé ra để lót, rồi giặt không xà phòng (vì không được thăm nuôi). Ăn uống, mỗi buổi sáng được một ly nước nóng, trưa một phần khoai độn, buổi chiều nửa chén cơm, một chút rau muống luộc với nước muối. Lễ lớn có một miếng thịt bằng ngón tay. Hơn một năm, một số tù cải tạo chuyển đi Bắc, một số tù cải tạo ở nơi khác chuyển tới, lúc đó mới có một số chị em phụ nữ ở trại Long Giao, trại giam Chí Hòa, Phan Đăng Lưu tới. Đa số là tù phản động. Tôi mới thoát cảnh ở một mình mà sống tập thể với bạn tù cũ, bạn tù mới. Tôi bắt đầu đi lao động, làm cỏ chung quanh trại giam, và trồng rau muống.”

Cảnh lao động vất vả của trại tù, dù sao, cũng cho người tù cơ hội được thấy ánh sáng mặt trời, mà không bị vây hãm gò bó giữa bốn bức tường bức bối. Nhưng trồng rau bằng phân người và nước tiểu người là những cực hình mà người tù phải gánh chịu, và ăn rau do chính mình trồng nhưng không được rửa sạch làm cho người tù bị tiêu chải kinh niên. Nhu cầu nha chu hay y tế căn bản cũng không được đáp ứng, nên bạn tù phải mượn kềm của tù nam hình sự, khi họ về ăn cơm trưa trong một tiếng, để nhổ răng cho nhau, khi răng đã hư quá nặng và không thể giữ được. Họ phải cầm máu bằng nước muối, vừa rát, vừa đau.

Bà kể tiếp, “Hai năm sau, tức tới tháng Bảy, 1977, chúng tôi chuyển lên trại tù cải tạo Căn Cứ 5 Rừng Lá, tức trại Z30D Hàm Tân, Thuận Hải. Đã di chuyển xa, nên việc phải gặp chấp pháp ít hơn, vài ba tháng một lần. Mà chủ yếu là lao động, cả đội mấy chục cô cầm cuốc, cầm xẻng, thùng tưới nước, chia nhau công tác để làm. Mới đầu chẳng biết cuốc, cả ngày trời cuốc một khoảng cỏ trước sân cơ quan mà thấy vẫn y nguyên. Lần lần gánh tranh, trồng rau muống, khoai lang, củ cải. Rau tưới bằng một lon nước tiểu pha một thùng nước suối, phân người bỏ dưới rãnh, lấp đất, trồng rau lên.

Tôi yếu sức nên đứng múc nước tiểu, pha cho người khỏe trẻ tưới. Cả ngày làm lao động mệt, chiều hết giờ chạy về bờ suối tắm 20 phút, vừa giặt giũ vừa tắm, không có quản giáo nữ canh gác. Cán bộ nam và võ trang canh gác khi đội nữ tắm. Bọn cai tù nói, “Các chị cứ coi chúng tôi như các chị, cứ thế mà tắm.” Thật là trơ trẽn. Chúng tôi cứ nhúng cả người xuống nước rồi lên giống như vịt rỉa lông. Những ngày mưa, nước suối đục ngầu, vẫn phải tắm, vì nước tiểu và phân dính cả người. Tới mùa nước suối cạn, bọn Cộng Sản chuyển đội nữ về lại trại cải tạo Long Thành. Nơi đây là trại hình sự, máy nước bị hư, không tiền sửa chữa. Mỗi ngày phát một gô nước uống, một tuần lễ mới ra suối cạn tắm một lần, giặt giũ rồi xách nước về. Về tới trại rửa cát bụi đi đường là thấy hết sô nước. Trại này trồng táo Thái Lan, dền, rau muống, cũng dùng nước tiểu, phân người làm phân bón. Chỉ trồng táo mới tưới bằng phân urê.”

Nhưng sau đó, bà bị chuyển trại, và bị đưa vào biệt giam hơn một năm để hỏi cung. Đây là gian đoạn gian nan nhất trong thời gian mười ba năm khổ sai của bà. Tuy nhiên, bà vẫn luôn giữ trong đầu một điểm đến: cố sống sót, đối diện với nghịch cảnh, để có ngày đoàn tụ với con. Bà ôn lại, “Ăn thiếu thốn, đói khát, bị vây quanh mấy tên cán bộ chấp pháp, tôi muôn điên lên vì thần kinh quá căng thẳng. Tôi sẽ gặp đau thương khi đối đầu với địch nên trước ngày cuối, để bảo mật, tôi đã hủy hồ sơ của Biệt đội Thiên Nga. Tôi cũng được bọn Cộng Sản đưa đi xem các văn phòng có liên hệ. Nhưng tôi vẫn lo lắng cho các nhân viên. Tôi muốn bảo toàn cho các bạn nữ đồng khóa, các nhân viên, và cộng tác viên. Tôi tâm niệm trong lòng mỗi lần phải gặp mặt cán bộ, tôi đều thầm nhủ đây là địch, đây là Việt Cộng, làm cho tôi thêm nghị lực, bình tĩnh hơn, mạnh dạn hơn để trả lời. Tôi ở biệt giam một mình hơn một năm, vì phải làm việc bằng đầu óc, trại giam gọi là động não quá nhiều, ăn uống thiếu thốn, ngủ nền xi-măng, tôi bị liệt một chân, phải lần vách. Tôi mới xin lau chùi quét dọn hành lang và xin phơi nắng nửa giờ mỗi ngày trừ thứ Bảy và Chủ Nhật. Tôi tập giật chân kinh và tự xoa nắn lấy chân bị liệt teo cơ do suy dinh dưỡng gây ra. Tôi tự nhắn nhủ, không nhớ con nhiều nữa, phải rán chịu đựng mọi khó khăn để có sức khỏe trở về với con.”

Trước 30 Tháng Tư 1975 và sau 13 năm tù. (Hình văn khố: Olivier Glassey-Trầnguyễn)
Thời gian biệt giam này đã dài như thế nào? Những chi tiết về gian đoạn này sẽ khiến nhiều người không thể tưởng tượng ra được, bà Nguyễn Thanh Thủy đã làm thế nào để sống sót. Bà nói, “Tháng 4 năm 1981, tôi bị đưa từ trại tù cải tạo Long Thành về trại tù biệt giam X4 (Bộ Công An Cộng Sản đường Võ Tánh, Sàigòn). Tôi ở xà lim, chung quanh tối om, ngoài một bóng đèn điện cho cả dãy xà lim, mỗi xà lim có một khoảng trống bằng một cục gạch trên sát trần nhà để thở. Trời tháng Tư ở Việt Nam, nóng bức, mồ hôi chảy như tắm, quần áo vo cao cho bớt nóng. Tuần lễ đầu tiên tôi bị xỉu, thiếu dinh dưỡng, thời tiết quá nóng. Cán bộ trại giam phát hiện do người ở cạnh xà lim đập tường hỏi thăm sức khỏe, không thấy tôi trả lời, họ đập tường gọi cán bộ cấp cứu. Sau lần cứu tôi tỉnh dậy, trại giam đưa một lọ thuốc tim nhỏ giọt để khi mệt nhỏ vào miệng và gọi cấp cứu.

Về ăn uống, sáng để gô ra, họ cho một gô nước nóng. Trưa và chiều để ít cơm trong cái thau và một chén canh ngoài song sắt xà lim, rồi tự mình mang cơm canh qua song sắt để ăn. Phải kiếm thế nghiêng thật nhanh, mang tất cả cơm canh vào. Vì không có muỗng, nên phải ăn bốc bằng tay.

Lúc mới tới, Cán Bộ chấp pháp cho biết tôi sẽ được ăn tiêu chuẩn quốc tế, dành cho người về làm việc, ngày 3 lần: sáng, trưa, chiều. Nhưng tôi chưa bao giờ nhận được buổi ăn nào như thế. Các tù nhân đi với Cán Bộ trại giam giao phần ăn không được mặc áo, phải ở trần và bận quần xà lỏn (quần đùi), họ không được nói bất cứ lời nào. Muốn hỏi gì, họ chỉ tay về phía Cán Bộ, người Cán Bộ mới có quyền nói chuyện với tù nhân.

Về phần vệ sinh cá nhân, mỗi ngày được tắm một lần, 20 phút. Tù không bao giờ gặp mặt nhau, cứ người này tắm xong, mới mở cửa phòng khác cho tù ra tắm. Tiểu tiện đi vào thùng sắt đựng đạn của Mỹ, cứ đi tắm mang ra đổ, rửa sạch dùng lại.

Đưa tôi về nơi này, bọn Cán Bộ chấp pháp làm áp lực để tôi viết cam kết, với chồng hồ sơ thu thập được của nhân viên Thiên nga, cấp chỉ huy, bạn bè để trước mặt, cho thời hạn suy nghĩ là 3 ngày. Trên đường trở về xà lim, tôi nhờ chấp pháp trình lại với lãnh đạo của họ, 6 năm tù cải tạo đủ để suy nghĩ, không cần thêm 3 ngày. Tôi trả lời: Không, không bao giờ.

Thế là tiêu chuẩn ăn hàng ngày bị giảm đến mức tối thiểu, chỉ còn một chút cơm với vài hột muối hột. Thời gian này, bệnh nặng không được chữa, có lần ói từ nửa đêm đến sáng. Khi họ kiểm tra thấy nằm ói toàn mật xanh, Bs y tá tới, cho thuốc uống liền tại chỗ. Người y tá đưa thuốcd nói thật nhanh, thật khẽ, “Đừng uống.” Tôi vội nắm chặt thuốc trong lòng bàn tay, đưa tay giống như bỏ thuốc vào miệng và vội vàng uống nước. Sau này, tôi gặp người y tá đó khi khám sức khỏe đi Mỹ tại Bv Cảnh Sát. Người ấy mới kể, trước là y tá Bv Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, có thân nhân liệt sĩ, nên được giữ làm lại, biết tôi và tránh cho tôi bị thuốc.

Họ giữ tôi tại cơ quan X4 bốn tháng nhưng không khai thác được gì. Bọn chấp pháp đem cán bộ nữ ra dụ dỗ vì thương con tôi, mới khuyên tôi cam kết để tha về. Tôi khẳng định tôi về khi nào có chính sách của lãnh đạo nước, chứ về riêng lẻ không bao giờ có. Thấy tôi kiên quyết không khai, bọn chấp pháp biểu tôi đứng xa họ ba thước, nghe đọc lệnh án. Lệnh án có nội dung như sau: Do quyết định ngày… tháng… năm, Tên Nguyễn Thanh Thủy có thái độ ngoan cố không chấp hành cải tạo lao động nên tuyên án tập trung cải tạo tiếp 3 năm và quyết định có hiệu lực vô thời hạn.

Hai chân tôi bị nhốt ở xà lim, nên bị liệt không đi nổi. Trở lại xà lim, lấy quần áo chiếu mền theo họ chở về trại tù cải tạo Long Thành. Trước khi lên xe, họ đưa cái giỏ nhỏ nói là quà gia đình gửi. Sau này gặp chồng tôi, anh kể mấy ngày trước khi tôi trở lại trại cải tạo Long Thành, họ đưa một miếng giấy có chữ viết của tôi, vỏn vẹn, “Thăm anh và các con. Em vẫn khỏe mạnh.” Xong họ dặn chồng tôi mua cho tôi ít quà khô. Họ biểu đem đến cổng. Anh không biết chỗ, hỏi thăm gác cổng, họ bắt anh nhốt cho tới tối mới thả anh ra.

Sáng hôm sau là tôi chuyển trại. Họ phải xách tất cả một xách quần áo, sô đựng vài thứ linh tinh, một giỏ thức ăn. Vì tôi đi không nổi, mặt mày xanh xao, không ánh nắng mặt trời bốn tháng, màu da vàng của người VN rất đúng không sai tí nào. Nói đến hình phạt kỹ luật cho nữ, cái nhà kỹ luật là nhà có 2 lớp, giống như cái hộp có hai lớp, một lớp là phòng giam nóc bằng, cách khoảng chừng 1 thước, lớp ngoài cũng xi măng cốt sắt.

Mỗi phòng giam kỷ luật có một cái bệ. Cuối bệ có cây sắt thông ra ngoài để khóa bằng ống khóa sắt. Trên cây sắt có những cái cùm. Cái bệ xi măng có một cái lỗ để thùng đạn của Mỹ. Thùng trống không, làm chỗ tiểu tiện. Đặc biệt là kể từ ngày vào phòng giam kỹ luật cho đến ngày ra không được tắm. Khôn được tắm từ 1 tuần cho tới 3 tháng, 6 tháng, hay cả năm, chỉ những ngày kinh nguyệt phụ nữ mới được 40 phút thay quần áo.

Tùy theo hình thức phạt, đa số hai chân đều phải cùm lại, hỏng trên cái bệ, nên rất đau đớn vì tê chân và sét ăn vào cườm chân. Muỗi đốt suốt ngày đêm, bóng tối cả ngày đêm… Những hình thức này tôi đều trải qua, hằn sâu trong da thịt tôi.”

Chính thời gian biệt giam này đã gây ra nhiều tổn thương trên thân thể bà nhất, từ việc bị bại liệt một bên người, phong thấp, các chứng bệnh đường ruột và tiêu hóa, cho đến sự căng thẳng đầu óc đến cao độ. Từ việc bị giam trong phòng tối cả ngày lẫn đêm, cho đến việc bị điều tra hỏi cung 24/24, cho đến việc bà bị trừng phạt không cho ăn uống, chỉ có chút nước và ít muối hột, hay bị phạt không được tắm, những ngày có kinh nguyệt bà cũng chỉ được 40 phút thay quần áo rồi bị cùm lại – tất cả đã khiến bà rụng gần hết răng và cơ thể bà hoàn toàn kiệt sức, không đứng được.

Tại Mỹ, với vật chứng nhà tù mang theo. (Hình phóng sự: Benjamin Vũ)
Tôi thắc mắc, sau những đằng đẵng đói lạnh và lao động quá sức, không biết trong những lúc quá cùng cực và bị bệnh thập tử nhất sinh, Nguyễn Thanh Thủy có bao giờ cảm thấy tuyệt vọng không? Mười ba năm khổ sai đã cho bà nhiều kinh nghiệm đắt đỏ và một cái nhìn thấu đáo về chế độ chính trị đang nắm quyền trên quê hương bà. Và khi bà rời nhà tù nhỏ của trại Hàm Tân Z30, bà tiếp tục bị dồn bức cho đến giây phút gia đình bà đứt ruột rời bỏ người thân và quê hương để đi Mỹ qua diện H.O.

Bà kiên trì, giữ vững tôn nghiêm của người lính, giữ tinh thần lạc quan. Cho nên “Cả 13 năm tù, tôi không muốn kẻ địch thấy giọt nước mắt của tôi. Nên khó tìm thấy nét buồn, cho tới ngày em tôi lên trại, báo tin Ba tôi mất, tôi xỉu ngay tại phòng thăm nuôi và tôi rơi nước mắt.”

Nhưng dù không biết tương lai mình ra sao, Nguyễn Thanh Thủy vẫn luôn nghĩ đến người khác, những người bạn tù của bà. Chính vì nghĩ đến người khác, nên ngay từ đầu, bà đã không khai những bí mật Thiên Nga khi bị hỏi cung, mà mới bị trừng phạt nặng nề và chịu nhiều tổn hại về sức khỏe. Đến những ngày cuối cùng, bà vẫn giúp các bạn tù, “Mấy năm trước ngày ra trại, tôi làm đội trưởng kỹ thuật may, chỉ cho các em hình sự án cao biết may gia công để đỡ cuốc đất trồng rau cực khổ trong thời gian thụ án, sau có tay nghề may.”

Là người nữ tù cuối cùng rời trại cải tạo vì bị cho là ngoan cố, Nguyễn Thanh Thủy rời tù nhỏ, về tù lớn của xã hội Việt Nam hậu 1975, với hai hàm răng đã rụng, nên các con không dám tới gần bà. Con gái bà bảo, “Kỳ quá, Mẹ không có răng!”

Tôi tự hỏi, đối với bà, đâu là nỗi đau lớn nhất trong 13 năm này: những đau khổ về thân xác trong trại cải tạo, hay nỗi đau tình cảm phải chia lìa với gia đình và con dại? Thời gian có xoa dịu được những nỗi đau này không? Hay mất mát sẽ vĩnh viễn là mất mát?

Lần đầu tôi phỏng vấn Cựu thiếu tá Nguyễn Thanh Thủy là từ thập niên 1990, cho Dự Án Việt Mỹ (còn gọi là Vietnamese American Project, do tôi dùng tiền student loans để sáng lập tại CSU Fullerton, và sau được sự hỗ trợ của Đại học Nhân Văn và Khoa Học Xã Hội của trường và các tổ chức khác). Cho nên trong các cuộc thuyết trình chuyên môn về người Việt hải ngoại tại các trường đại học khắp nơi trên thế giới trong suốt gần hai mươi năm qua, tôi vẫn đặt câu hỏi: Ai sẽ trả lại cho Nguyễn Thanh Thủy và gia đình bà 13 năm chia lìa vì tù ngục cải tạo? Chứng từ của Nguyễn Thanh Thủy trong các cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu mà tôi đã thực hiện với bà sẽ tiết lộ câu trả lời của bà cho những câu hỏi này trong các kỳ tới.

Trangđài Glassey-Trầnguyễn
Liên lạc: vietamproj@gmail.com
  • Tweet
PDFIn TrangGửi mail

Xem Thế Hệ Trẻ video gốc bằng Thế Hệ Trẻ Website. Mỗi ngày một bài cho các em nhỏ tập học tiếng Việt.
bộ kem trị mụn

Apogee Kimberly Skin 1888depsang.com

Ý kiến độc giả (15)
Được gửi bởi khang nguyen (Guest) vào 04/14/2012
Cám ơn tác giả đã thưc hiện một bài phóng sự rất hay.
Được gửi bởi Truyện (Guest) vào 04/12/2012
Xin hỏi Cựu Đại Tá Võ Bị (Lê Thành Long) là gì? Trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có quân/binh chủng/ngành Võ Bị nữa hay sao?
Được gửi bởi Glassey-Trầnguyễn (Guest) vào 04/11/2012
Kính thưa Giáo sư Thủy Tiên,

Rất cám ơn Giáo sư đã liên lạc.

Dự án này do một mình tôi xúc tiến và thực hiện, vì nhận thấy đây là việc cần làm. Tôi muốn vừa ghi nhận lịch sử của thế hệ đi trước, vừa giúp nối kết với thế hệ đi sau. Lọat bài này là một sự bày tỏ của tôi đối với những bậc cha mẹ, đã dùng nghị lực để vươn lên sau 1975, để con em họ có ngày hôm nay.

Rất hoan nghênh đề nghị dịch sang tiếng Anh của Giáo sư. Từ trước đến nay, tôi vẫn luôn thu thập chứng từ của người Việt (bằng tiếng Việt) và trình bày hay xuất bản bằng tiếng Anh để giúp các thế hệ trẻ hiểu được lịch sử qua chính kinh nghiệm của cha mẹ, ông bà.

Riêng về Dự án này, tôi thực hiện cả năm nay một cách hòan tòan bất vụ lợi và không có ngân sách hay lương bổng. Do đó, hiện nay, tôi không thể dịch thuật tòan bộ lọat bài 4 phần từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Tuy nhiên, cũng có nhiều tài liệu học thuật khác tôi đã xuất bản bằng tiếng Anh có liên quan đến đề tài này ở Mỹ cũng như tại Anh Quốc.

Bên cạnh đó, báo Sacramento Bee sẽ xuất bản một bài tiếng Anh (rút ngắn, không chi tiết như lọat bài tiếng Việt) vào ngày 29 tháng Tư. Kính mời Giáo sư đón đọc.

Trân trọng,
Trangđài
Được gửi bởi Trầm Hương (Guest) vào 04/11/2012
Trang Đài ơi, Project của em hay quá ! Em có một cái nhìn trung thực và trong sáng thật đáng quý . Bài viết sâu sắc lắm . Cảm ơn Trang Đài nhiều nha! Chúc em khoẻ và chân cứng đá mềm trên lý tưởng em theo đuổi .

Thương mến,
Trầm Hương, Utah
Được gửi bởi Vinh (Guest) vào 04/11/2012
Ngày xưa, khi là người tù trên đất khách, hằng ngày Việt Vương Câu Tiễn nằm gai, nếm mật để không quên mối thù mất nước. Ngày nay, người Việt hải ngoại cũng mất nước nhưng được tự do, hằng ngày nằm giường nệm, nếm bơ sữa nên có chút "thờ ơ với vận nước"! Do đó, chúng ta cần những bài viết loại này để nhắc nhở rằng: bọn giặc Cộng vẫn trước sau như một, vẫn đã và đang tàn ác với dân Việt và bây giờ còn manh tâm bán nước cho bọn Tàu phù.
Được gửi bởi Đảng Người Việt Yêu Người Việt (Guest) vào 04/11/2012
Chào Anh, bài viết rất hay.

Được gửi bởi Trần Thủy Tiên (Guest) vào 04/11/2012
Hi Glassey-Trầnguyễn,
Xin khen ngợi việc làm có ý nghĩa của quý vị trong project Tháng Tư này.

Có thể cho email address của bà Thiên Nga Thanh Thủy để tôi có cơ hội trực tiếp hỏi thăm bà?
Câu chuyện của bà rất hào hùng và cảm động.

Có bản English cho sinh viên (0 biết Tiếng Việt) đọc không?
Nếu chưa, xin nhờ quý vị làm việc trong project, dịch ra English giùm, thì rất hữu ích trong việc giáo dục giới trẻ về 1 phần lịch sử Việt sau 1975.

Cám ơn trước,
GS Trần Thủy Tiên
Được gửi bởi Trangđài Glassey-Trầnguyễn (Guest) vào 04/09/2012
Xin chân thành cảm ơn tất cả đóng góp ý kiến của quý độc giả. Bác Toàn Như: Đúng là chi tiết đó đã sai, xin cám ơn Bác đã nhắc nhở. Xin cám ơn lời chúc sức khỏe của quý vị, và xin chúc mọi người được an bình, hạnh phúc.
Được gửi bởi charlie tran (Guest) vào 04/08/2012
dù rằng hoàn cảnh Nguyen Thanh Thuy không khác bao nhiêu so với các tù nhân chính trị sau 1975.Ngay cả tôi cũng bị đầy đoạ cả về thể xác lẫn tinh thần khi bị tù cải tạo như Thanh Thuỷ nhưng đọc lại bài viết của Trang đài Glassey-Trần Nguyễn khiến tôi không cầm được nước mắt và xúc động mãnh liệt dù rằng đắng cay nhục nhằn đã hoàn toàn chìm sâu trong quá khứ và tôi cũng ít khi muốn khơi lại.Xin cảm ơn Nguyễn Thanh Thuỷ đã thuật lại chi tiết câu chuỵên này thay cho tất cả các anh chị em tù cải tạo.Đồng thơì cũng cám ơn tác giả bài viết.
Được gửi bởi Toàn Như (Guest) vào 04/07/2012
Tôi là bạn của vợ chồng Thiên Nga Nguyễn Thanh Thuỷ nên biết, bài viết trên có một chi tiết sai, đó là phu quân của Thiếu tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy là Đại uý Võ Bị Lê Thành Long chứ không phải Đại Tá.
Được gửi bởi Thiên Tâm (Guest) vào 04/07/2012
Cuối cùng, cũng đã có người cất công ghi lại chặng đường lịch sử này bằng một phương pháp học thuật chuyên môn. Cám ơn tác giả đã dành tâm huyết và nhiều công sức cho dự án này.
Được gửi bởi Toại (Guest) vào 04/07/2012
Đây quả thực là một bậc nữ anh thư của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà! Xin nghiêng mình cảm phục Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thuỷ và cũng xin cám ơn Tác giả Trang Đài Glassey-Trần Ngtuyễn đã làm sống lại một hình ảnh hào hùng bất khuất của người phụ nữ trước cảnh nước mất nhà tan. Xin chúc sức khoẻ cho cả hai người.
Được gửi bởi Mỹ Tho (Guest) vào 04/07/2012
"TỰ GIÁC LÀ TỰ SÁT "
Được gửi bởi Phương Dung (Guest) vào 04/07/2012
Dự án, đề tài, nội dung và cách viết đều hay. Cảm phục nhân vật và tác giả. Chờ đợi được đọc những phần kế...
Được gửi bởi quang phan (Guest) vào 04/06/2012
Đọc với lòng thương cảm vô ngần đối với thiếu tá Nguyễn Thanh Thuỷ và với lòng căm thù tột độ đối với bè lũ Việt cộng- tay sai của Cộng sản quốc tế.

Và cũng cám ơn tác giả Trang Đài Glassey- Trần Nguyễn đã viết thuật lại những năm tháng tù tội của người chiến sĩ quốc gia Nguyễn Thanh Thuỷ.
Gửi ý kiến. (vui lòng viết tiếng Việt có dấu) Tiếng Việt Còn. Người Việt Còn.
U1=Ú -|- U2=Ù -|- U3=Ủ -|- U4=Ũ -|- U5=Ụ -|- A6=Â -|- U7=Ư -|- A8=Ă -|- D9=Đ
Ý kiến không dấu sẽ không hiển thị. Cảm ơn bạn đọc cộng tác bảo tồn tiếng Việt.
Nhìn văn nói người. Vui lòng góp ý trong tinh thần tôn trọng, văn minh.
Tên của bạn
Email của bạn
Đánh giá (tùy ý)
    Nhập những ký tự ở hình bên vào ô bên dưới.
    Tin / Trang
    Sắp theo
    Đang xem 1 - 15 của 100 bài 1 2 3 ... 7 »
    STT Tên bài Xem Ngày viết
    1
    Con Sáo Sang Sông Trên Đất Mỹ
    Khôi An
    26282 12/31/2012
    2
    Viết Cho Anh Nhân Mùa Giáng Sinh
    Ngô Mai Hương
    23641 12/29/2012
    3
    Tản Mạn Cuối Năm
    Đoàn Thị
    22114 12/29/2012
    4
    Lời Con Trong Tang Lễ Bố
    Nguyễn Văn Hưởng
    22768 12/28/2012
    5
    Cái "ALARM"
    Y Châu
    19760 12/25/2012
    6
    Ông Noel và Bé Emilie
    Trương Tấn Thành
    23077 12/25/2012
    7
    Chuyện Tình Yêu... Cuối Năm, Đầu Năm
    Cao Đắc Vinh
    23487 12/25/2012
    8
    Chuyện Mùa Giáng Sinh: Anh Tôi
    Phạm Hồng Ân
    27626 12/24/2012
    9
    Không Bỏ Anh Em, Không Bỏ Bạn Bè
    Vĩnh Chánh
    27515 12/23/2012
    10
    Chiếc Giày Há Miệng
    Phương Hoa
    29096 12/22/2012
    11
    Chuyện Vợ "Ông Nhà Thơ"
    Phạm Thành Châu
    22082 12/21/2012
    12
    Tiếng Chuông Giáo Đường
    Phương Lan
    33423 12/19/2012
    13
    Quà Giáng Sinh & Chuyện Rau Muống
    Sao Nam Trần Ngọc Bình
    32650 12/17/2012
    14
    Mùa Đông Ở Xóm Tôi
    Trần Kim Sa
    32442 12/16/2012
    15
    Thầy: Mi Sinh Tiền...
    PhilaTo
    32311 12/15/2012
    Tin / Trang
    Sắp theo
    Đang xem 1 - 15 của 100 bài 1 2 3 ... 7 »
    Xem theo ngày »
    Viết Về Nước Mỹ
    Gởi bải tham gia "Viết Về Nước Mỹ"
    Bạn đọc đóng góp bài "Viết Về Nước Mỹ" dùng mẫu dưới đây đễ gởi bài. Bấm vào nút "Browse.." nơi dòng "Đính kèm file" để đính kèm bài viết. Đề nghị gởi hình ảnh tác giả và vài hình minh họa cho bài viết được thêm màu sắc sống động. Bài viết, hình ảnh phải được zip lại trước khi gởi.

    Bộ Kem Trị Nám
    Tìm kiếm
    Copyright © 2013 vietbao.com All rights reserved www.vnvn.net
    Best viewed with FireFox, Chrome, Safari, Opera, IE 8 at resolution of 1024x768